Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Tầm soát ung thư không thể bằng cách xét nghệm máu

Khám sức khỏe định kỳ là biện pháp đơn giản và khoa học nhất để kiểm tra tình trạng sức khỏe của mình, phát hiện sớm các bệnh lý để điều trị kịp thời, đặc biệt là bệnh ung thư.


Tuy nhiên, trog thời gian gần đây, nhiều bác sĩ cho rằng các xét nghiệm máu có thể tầm soát ung thư nên thay vì thực hiện các phương pháp tầm soát ung thư cơ bản được Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra cho từng lứa tuổi và từng đối tượng thì lại cho bệnh nhân làm nhiều xét nghiệm để truy tìm các dấu ấn ung thư trong máu (Tumor marker).

Hậu quả là khi thấy nồng độ một chất tăng cao thì bệnh nhân sẽ được tiếp tục thực hiện một loạt các xét nghiệm y tế khác như chụp CT, nội soi dạ dày, ruột già, thậm chí đến cả chụp PET… để xác định xem có phải ung thư thật sự hay không. Điều này khiến cho bệnh nhân hoang mang lại gây mất nhiều thời gian và tiền bạc.

tầm soát ung thư

Về lý thuyết, khi tế bào ung thư phát triển sẽ sinh ra một số chất vào trong máu. Do đó, khi nồng độ một chất nào đó tăng cao thì có thể bệnh nhân đã bị ung thư, chẳng hạn như xét nghiệm CEA tăng cao thì có thể bệnh nhân bị ung thư đại tràng, AFP tăng cao có thể bị ung thư gan, CA125 tăng cao có thể bị ung thư buồng trứng, CA 19-9 tăng cao có thể bị ung thư dạ dày, tụy, ruột, mới đây còn có xét nghiệm DR 70 tầm soát 13 loại ung thư.

Nhưng trên thực tế, theo kết luận từ rất nhiều nghiên cứu về các dấu ấn ung thư đều khẳng định, không có một xét nghiệm máu nào có thể cho kết quả đáng tin cậy trong khảo sát, phát hiện sớm ung thư. Nhiều bằng chứng cho thấy chất CEA cũng tăng cao trong các trường hợp viêm loét ruột hoặc bệnh nhân hút nhiều thuốc, AFP tăng khi bệnh nhân bị viêm gan, CA 125 tăng trong nhiều trạng thái lành tính khác của phụ nữ như lạc nội mạc tử cung, PSA - xét nghiệm thường dùng nhất cho ung thư tiền liệt tuyến - cũng sẽ bị thay đổi khi bệnh nhân bị viêm tuyến tiền liệt.

Mới đây, website của Cơ quan Quản lý Thiết bị Y tế của Anh (UK MDA Medical Devices Agency) cũng đưa ra khuyến cáo là không thể sử dụng DR 70 để tầm soát ung thư vì không đủ chứng cứ y khoa. Như vậy, việc truy tìm dấu ấn ung thư thường được sử dụng trong các trường hợp theo dõi điều trị ung thư hoặc bổ sung thêm thông tin khi bệnh nhân có nguy cơ bị ung thư cao chứ không thể thực hiện trên người khỏe mạnh để tầm soát ung thư.

Ở các nước tiên tiến, bác sĩ gia đình (Family Practitioner) và bác sĩ đa khoa (General Practitioner) thường là người thực hiện việc khám sức khỏe tổng quát ban đầu. Bệnh nhân có thời gian trao đổi các vấn đề sức khỏe, bệnh sử bản thân và gia đình cho bác sĩ. Trên cơ sở đó và qua quá trình kiểm tra, thăm khám, bác sĩ sẽ khuyên bệnh nhân nên thực hiện các xét nghiệm nào cho phù hợp với lứa tuổi, nguy cơ của bệnh nhân đồng thời tư vấn các thói quen trong sinh hoạt (ăn uống, tập thể dục, chơi thể thao, chích ngừa...) để có những tác động tốt đến sức khỏe.

Trong khi đó, với cách tổ chức khám sức khỏe định kỳ của chúng ta hiện nay cùng tình trạng quá tải ở hầu hết bệnh viện, bệnh nhân không thể có thời gian được bác sĩ tư vấn. Thêm vào đó, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe ban đầu trong quản lý và điều hành y tế nên chúng ta chưa tận dụng hết chức năng của bác sĩ gia đình và bác sĩ đa khoa trong sàng lọc bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Vì vậy, muốn khám tổng quát, bệnh nhân phải đi một vòng từ chuyên khoa mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, da liễu... Với cách khám qua loa, bệnh nhân đi hết phòng này đến phòng khác mà kết quả hầu hết là bình thường. Kết quả này chắc chắn sẽ khả quan hơn nếu có quá trình sàng lọc và thăm khám sức khỏe ban đầu trươc khi đến với bác sĩ chuyên khoa.

Tóm lại, trong khám tổng quát không không nên lạm dụng nhiều xét nghiệm máu và cũng không cần thật nhiều bác sĩ chuyên khoa.

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

Selenium làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột.

Ung thư hiện nay vẫn đang là một gánh nặng cho toàn cầu. Một căn bệnh nguy hiểm mà khoa học vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị.


Phương pháp điều trị bệnh ung thư phổ biến hiện nay là phẫu thuật, hoá trị và xạ trị. Các phương thức này có thể làm giảm sự tiến triển của khối u, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ của người bệnh như: sụt cân, chán ăn, mệt mỏi, suy giảm sức đề kháng, dễ mắc bệnh khác.

Theo thống kê, 30% bệnh nhân ung thư chết do suy kiệt cơ thể trước khi chết vì bệnh ung thư đã phần nào cho thấy tác dụng phụ của hoá trị, xạ trị là đáng lưu tâm.

bệnh ung thư 

Tác dụng phụ thường gặp sau hoá trị và xạ trị của bệnh nhân ung thư là:

- Giảm sức đề kháng.

- Thiếu máu.

- Buồn nôn và nôn, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân.

- Rụng tóc: thường khởi phát từ 3-4 tuần sau chu kỳ điều trị đầu tiên.

Trên thực tế đa số người bệnh ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú trọng đến việc hạn chế đến mức thấp nhất tác dụng phụ của Hoá trị và Xạ trị. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy kiệt, sức khoẻ ngày càng giảm sút trầm trọng.

Kết quả một cuộc nghiên cứu mới của các nhà khoa học cho biết hàm lượng selenium cao trong máu có thể làm giảm thiểu đến 34% nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột.

Selenium là một lượng khoáng chất rất nhỏ có chứa trong vài loại thịt, gạo, hải sản. Tuy nhiên nếu bạn dùng nhiều loại thực phẩm có chứa selenium thì sẽ rất tốt, ngược lại nếu ít dung nạp các loại selenium vào cơ thể sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột và các loại ung thư khác.

"Selenium không những có thể bảo vệ bạn chống lại bệnh ung thư ruột mà còn giúp nam giới phòng ngừa ung thư tiền liệt tuyến và ung thư phổi”

Selenium giúp cân bằng các quá trình chuyển hóa trong cơ thể, chống oxy hóa mạnh và giảm tác dụng phụ có hại của hóa và xạ trị, hỗ trợ điều trị bệnh ung thư.

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Thực hư mối nguy ung thư từ trứng vịt lộn?

Nhiều bệnh nhân điều trị bệnh ung thư theo đuổi chế độ ăn uống kiêng khem khắc khổ, "tẩy chay" trứng vịt lộn với mong muốn rút ngắn thời gian hồi phục.


Không ít người loại bỏ trứng vịt lộn, giá đỗ, rau mầm trong thực đơn ăn hàng ngày với suy nghĩ nhóm thực phẩm này tốt cho tế bào ung thư, kích thích bệnh ung thư phát triển mạnh.


Về vấn đề này, ThS.BS Nguyễn Thị Minh Hương, trưởng khoa dinh dưỡng BV Ung bướu Hà Nội từng cho biết, chưa có bất cứ bằng chứng thuyết phục nào chỉ ra trứng vịt lộn góp phần thúc đẩy tế bào ung thư phát triển.

Thực tế, nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của tế bào bệnh ung thư có xu hướng cao hơn so với các tế bào khỏe mạnh. Ngay cả khi bệnh nhân ung thư không được cung cấp đầy đủ dưỡng chất, tế bào ung thư vẫn tự lấy năng lượng để phục vụ nhu cầu hoạt động của chúng thông qua quá trình "tự thực".

bệnh ung thư

Ở đó, "tự thực" diễn ra khi cơ thể không được cung cấp đủ dưỡng chất dẫn đến việc huy động nguồn protein có sẵn để tạo năng lượng. Hậu quả là khối nạc bị suy giảm nhanh chóng. Điều đặc biệt, "tự thực" tiến hành đồng thời với "xâm thực" khiến cơ thể người bệnh có khả năng đối diện với tình trạng suy kiệt nhanh chóng; không đủ sức để đáp ứng yêu cầu quá trình điều trị.

Bên cạnh đó, theo Đông y, trứng vịt lộn ăn cùng gia vị không chỉ là món ăn ngon mà còn có tác dụng trị chứng thiếu máu, suy nhược, còi cọc, đau đầu chóng mặt, yếu sinh lý… Riêng trứng vịt lộn có khả năng tu âm, dưỡng huyết, ích trí, giúp cơ thể nhanh tăng trưởng.

Dù chứa nhiều dinh dưỡng tốt cho sức khỏe song việc sử dụng nhất phải đúng liều lượng và đúng cách mới đem lại hiệu quả. Cụ thể, ăn quá nhiều trứng vịt lộn không hề tốt. Nó có khả năng làm tăng lượng cholesterol xấu trong máu, góp phần gây ra các bệnh tim mạch, huyết áp, tiểu đường…, tăng lượng protein, không tốt cho người mắc bệnh gút.

Để đảm bảo, trẻ em chỉ nên ăn tối đa 1 quả trong khi người lớn có thể tẩm bổ 2 qủa mỗi ngày.

Trẻ dưới 5 tuổi, hệ tiêu hóa kém cũng không nên tẩm bổ bằng loại thực phẩm này nhằm hạn chế tình trạng sình bụng, tiêu chảy.

Với người cao huyết áp, tiểu đường, viêm gan, gan nhiễm mỡ, tim mạch… cũng không nên ăn nhiều trứng vịt lộn nhằm tránh tắc nghẽn động mạch, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Cơ chế chống ung thư của vitamin C

PGS.TS Lê Trần Ngoan, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết: Có nhiều nghiên cứu bệnh chứng cho thấy, các loại rau quả tươi chứa nhiều vitamin C có vai trò bảo vệ chống lại nguy cơ mắc bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày

Cơ chế chống bệnh ung thư của vitamin C hoạt động như chất chống oxy hóa trong dạ dày, làm giảm sự hình thành các gốc nitơ và oxy tự do.


phòng bệnh ung thư


Ngoài ra, các chất chống oxy hóa khác như beta-carotene và các carotenoid khác có khả năng ức chế gốc tự do sinh ung thư. Vitamin C cũng thúc đẩy nhanh lưu thông ống tiêu hóa, làm giảm thời gian tiếp xúc gây bệnh ung thư với niêm mạc dạ dày...

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

5 vitamin ngừa ung thư cực nhạy bạn nên dùng

Không có thực đơn ngăn ngừa bệnh ung thư tuyệt đối. Dù vậy, việc ăn uống lành mạnh góp phần giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh.


Beta carotene


Kết quả nghiên cứu khẳng định những người ăn nhiều beta carotene có tác dụng giảm nguy cơ ung thư dạ dày, ung thư phổi hiệu quả.

bệnh ung thư


Để tận dụng loại vitamin hữu ích này, bạn nên lựa chọn thực phẩm có màu cam, xanh lá như cà rốt, khoai lang, rau bina, cải xoăn… để chế biến món ăn hàng ngày.

Vitamin B6


Trong số các loại bệnh ung thư, vitamin B6 đặc biệt hiệu quả trong nỗ lực ngăn ngừa ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ đường hô hấp khỏi sự tấn công của các chất ô nhiễm, nhiễm trùng.

bệnh ung thư

Nhìn chung, vitamin B6 khá dồi dào trong cà rốt, táo, nội tạng động vật, chuối, rau lá xanh và khoai lang.

Vitamin C


Vitamin C là một chất chống oxy hóa cực mạnh, có khả năng ngăn ngừa ung thư vú, buồng trứng, ung thư cổ tử cung.

Để đưa ra nhận định trên, các nhà khoa học tiến hành theo dõi 61 bệnh nhân ung thư. Ở đó, 30 bệnh nhân được bổ sung vitamin trong khi nhóm còn lại thì không. Quá trình theo dõi diễn ra trong vòng 5 - 7 tháng chỉ ra, các đối tượng sử dụng loại vitamin này có khả năng duy trì sự sống lâu hơn 13 - 21 lần.

Axit folic


Axit folic còn được biết đến với tên gọi axit folate, vitamin B9. Axit folic đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các hợp chất di truyền DNA và RNA. Đặc biệt, khi đi vào cơ thể, nó còn mang lại tác dụng chống lại sự hình thành, phát triển của tế bào ung thư cổ tử cung.

bệnh ung thư

Vitamin E


Ngoài khả năng chống lại bệnh ung thư ruột, vitamin E hoạt động như một chất chống oxy hóa mạnh góp phần giảm ảnh hưởng tiêu cực từ ozone và các chất ô nhiễm. Loại vitamin này dồi dào trong trứng, mầm lúa mì, gan, dầu thực vật và các loại rau màu xanh đậm.

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Bệnh ung thư vòm họng giai đoạn cuối

70% bệnh nhân khi phát hiện ra bệnh đều được chẩn đoán đã ở giai đoạn 4 (giai đoạn cuối). Tỷ lệ sống cho giai đoạn này là rất thấp.


Tỷ lệ mắc ung thư vòm họng và tỷ lệ tử vong đang có chiều hướng tăng cao. Do vậy, nắm được nguyên nhân và triệu chứng của ung thư vòm họng có thể giúp bạn phát hiện ra ung thư ở những giai đoạn đầu, và cải thiện tỷ lệ sống.



ung thư vòm họng

Ung thư vòm họng giai đoạn cuối


Giai đoạn 1 là giai đoạn đầu tiên của bệnh ung thư. Trong giai đoạn này, khối u chỉ có kích cỡ nhỏ hơn 3cm, và được giới hạn ở vị trí ban đầu của nó trong cổ họng. Rất khó để phát hiện ung thư ở giai đoạn này vì giai đoạn này hầu như không có bất cứ triệu chứng nào. Khối u bắt đầu tăng gấp đôi kích thước, khoảng 5cm là khi ung thư vòm họng đã ở giai đoạn 2. Giai đoạn 3, khối u lớn hơn và các hạch bạch huyết bị nhiễm khuẩn.

Ung thư vòm họng giai đoạn cuối, khối u trở nên lớn hơn 6 cm. Ở giai đoạn này, ung thư lan tràn vào các mô lân cận (xung quanh môi và miệng).

Tiên lượng sống cho ung thư vòm họng giai đoạn cuối


Tiên lượng đối với ung thư vòm họng di căn (cơ quan xa của cơ thể bị tấn công) là không thuận lợi như dự đoán ở giai đoạn một. Trong giai đoạn thứ tư, ung thư tấn công các mô và cơ quan gần đó, và rất khó để loại bỏ. Phẫu thuật bóc tách cổ có thể là một lựa chọn bác sĩ đưa ra, nó giúp loại bỏ các tế bào ung thư đã lan tràn ra ngoài vị trí ban đầu. Hóa trị và xạ trị sẽ giúp tiêu diệt các tế bào ung thư còn lại.

Hầu hết các bệnh nhân khi phát hiện bệnh, đều được chẩn đoán ung thư vòm họng ở giai đoạn cuối, và tỷ lệ sống cho giai đoạn này là rất thấp.

Lựa chọn duy nhất cho bệnh nhân là loại bỏ cổ họng hoặc thanh quản, hoặc cả 2. Sau phẫu thuật như vậy, bệnh nhân cần phục hồi một số chức năng như tìm hiểu kỹ thuật thở mới và cách thức để nói. Họ cần phải biết làm thế nào để sử dụng dây thanh âm của họ đúng cách. Bệnh nhân cũng có thể cần trợ giúp bằng giọng nói hoặc cơ cấu lại phẫu thuật để nói. Phẫu thuật có thể liên quan đến việc tạo ra một đường mới để đưa thức ăn vào.

Tỷ lệ sống còn đối với ung thư vòm họng (giai đoạn rất sớm) là gần 98%. Tỷ lệ sống sót sau năm năm cho giai đoạn 1 là 90%, có nghĩa là khoảng 90% bệnh nhân được chẩn đoán ung thư giai đoạn 1 sẽ sống được 5 năm trở lên. Tỷ lệ sống cho giai đoạn 2 là 75%, và giai đoạn 3, là khoảng 60%. Giai đoạn 4, tỷ lệ sống sót là rất ít, chỉ có 30%. Điều này có nghĩa là chỉ có 30% những người bị ung thư ở giai đoạn 4 sẽ tồn tại trong vòng 5 năm.

Những con số này không thể dự đoán tuổi thọ của bệnh nhân một cách chính xác, bởi tuổi tác, sức khỏe, và tiến triển bệnh của mỗi người khác nhau. Khi bệnh di căn rất khó điều trị, và tỷ lệ sống rất thấp. Do vậy, phát hiện ung thư vòm họng ở giai đoạn đầu đóng một vai trò quan trọng trong việc điều trị, và tăng tuổi thọ của bệnh nhân. Vì vậy, nếu có bất kỳ triệu chứng nào, dù là nhỏ nhất bạn cũng không nên bỏ qua mà cần đi khám ngay lập tức.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Ung thư vòm họng: Phát triển nhanh và cực kỳ nguy hiểm

Ung thư vòm họng là một bệnh ung thư ác tính, có tốc độ phát triển nhanh và cực kì nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh. Ung thư vòm họng do virus EBV gây ra.


ung thư vòm họng

Theo các chuyên gia sức khỏe thì virus EBV có thể nhiễm vào cơ thể và tồn tại lâu mà không gây tác động nào.

Mặc dù nguyên nhân của bệnh này chưa được xác định rõ ràng nhưng một số yếu tố sau đây được coi là có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vòm họng:

- Thường xuyên tiếp xúc với khói, bụi, môi trường kém thông khí, hoá chất (đặc biệt là các hydrocacbon thơm), ăn nhiều cá muối và các thức ăn lên men (dưa, trứng, các loại củ)...

- Uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá

- Do di truyền

- Do tuổi tác

Các dấu hiệu của ung thư vòm họng có thể khó xác định trong giai đoạn đầu của bệnh. Nhiều triệu chứng liên quan với bệnh ung thư cổ họng cũng giống như đau hoặc viêm họng thông thường.

Dưới đây là những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng mà bạn không được bỏ qua. 

1. Khó nuốt



Khó khăn trong việc nuốt vào là một trong những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng. Có thể có một khối u phát triển trong cổ họng của bạn. Và nếu bạn cảm thấy sự tăng trưởng của khối u trong cổ họng, khối u sẽ ngăn chặn thực phẩm đi qua cổ họng của bạn.

2. Bề mặt thanh quản thô ráp


Bạn cảm thấy có một bề mặt thô ráp trong cổ họng của bạn? Cảm giác khó chịu này là rất khó để bỏ qua. Nếu bạn đã bắt đầu phát triển bệnh ung thư vòm họng, bạn sẽ tiếp tục cảm thấy dấu hiệu này.

3. Thay đổi trong giọng nói


Nếu bệnh phát triển xung quanh các dây thanh âm, nó sẽ dẫn đến giọng nói của bạn bị thay đổi. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ, ngay khi bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu của sự thay đổi trong âm thanh từ giọng của mình.

4. Ho kéo dài


Nếu bạn bị ho dai dẳng và khi khỏi, giọng bạn bị khàn đi, bạn nên chú ý đến dấu hiệu này. Đây là một trong những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng. Và nếu bạn bỏ qua những triệu chứng này, bạn có nguy cơ phát triển ung thư.

5. Chảy máu cam


Một trong những dấu hiệu để chẩn đoán nguy cơ ung thư vòm họng là chảy nước mũi một bên và có kèm theo máu. Tuy nhiên, nhiều người thường có thói quen nuốt nước mũi và nhổ ra đường miệng nên có thể dẫn đến chẩn đoán nhầm.

6. Nổi hạch ở cổ 


Do vòm họng có cấu trúc mô bạch huyết phong phú nên khi có sự xuất hiện của tế bào ung thư thì chúng sẽ nhanh chóng lây lan khắp vùng cổ. Khi các tế bào ung thư phát triển, nó sẽ dẫn đến các hạch cứng ở cổ dù không có cảm giác đau đớn.

Biến thịt ôi thành tươi rói nhờ hóa chất gây bệnh ung thư

Gần đây, dư luận đang xôn xao vì một hóa chất độc hại có tên là "săm – pết" được sử dụng để tẩy rửa thực phẩm ôi thiu thành tươi mới, đánh lừa người tiêu dùng.


bệnh ung thư
Hóa chất độc hại có tên "săm-pết".

Bản chất săm-pết thực ra là muối Nitrat và Nitrit. Đặc điểm của nó khi đưa vào thực phẩm có tác dụng diệt khuẩn tốt, thực phẩm sẽ bảo quản được lâu.

Tuy nhiên, chất này có khả năng phản ứng Oxy hóa rất mạnh. Trong quá trình tiếp xúc với thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm giàu Protein như thịt, cá, trứng, nó sẽ tạo ra chất rất nguy hiểm là Nitrosamin – có khả năng gây bệnh ung thư, đặc biệt nó có thể gây ra triệu chứng xanh xao – hội chứng Blue baby đặc biệt nguy hiểm ở trẻ em.

Mặc dù là chất độc hại nguy hiểm, không có tên trong danh sách được đưa vào thực phẩm nhưng trên thực tế nó vẫn được bày bán tràn lan và sử dụng để biến thực phẩm ôi thiu thành tươi mới, đánh lừa người tiêu dùng.

Hiện nay, lực lượng chức năng đang tăng cường kiểm tra, xử lý khi phát hiện, tuy nhiên người tiêu dùng cần phải thận trọng, trang bị kiến thức nhận biết trước khi tiêu dùng.

Bốn đặc điểm nhận biết thịt siêu nạc có hóa chất:


- Xem lớp mỡ bên dưới da miếng thịt: nếu lớp mỡ mỏng và lỏng lẻo nên tránh. Thông thường lợn siêu nạc được ăn hóa chất nên lớp mỡ mỏng hẳn đi, có khi dày chưa đến 1cm, trong khi lớp mỡ của thịt lợn bình thường khoảng 1,5-2cm.

- Nhìn màu sắc: Thịt lợn có chứa các độc chất ractopamine và clenbuterol thường có màu đỏ tươi khác thường, sáng và bóng.

- Trạng thái miếng thịt: Thái miếng thịt ra từng đoạn dày bằng 2-3 ngón tay, nếu thấy thịt mềm, không đứng thẳng được trên bàn rất có thể thịt đã nhiễm chất tăng trọng.

- Quan sát miếng thịt xem chỗ liên kết giữa phần nạc và mỡ, nếu thấy tách rời rõ rệt, đồng thời có nước dịch màu vàng rỉ ra, chắc chắn đó là thịt siêu nạc.

Một số kinh nghiệm dân gian:


- Thịt lợn thường có màu hơi hồng, không đỏ rực. Nhìn vào phản thịt thấy cả nạc và mỡ, chứ không phải toàn nạc. Mỡ và bì càng dầy chứng tỏ lợn được nuôi lâu, không ăn cám tăng trọng.

- Màu mỡ trắng phau chứng tỏ con lợn khỏe mạnh, không ốm. Thịt lợn sạch khối thịt rắn chắc, có độ đàn hồi cao, các thớ thịt đều, khi chế biến có mùi thơm, không bị ra nước, thậm chí còn nở hơn.

- Đối với thịt lợn đã bị ôi, một số người bán hàng thường tẩm ướp hàn the, muối diêm... để đánh lừa cảm quan người tiêu dùng là thịt vẫn còn tươi. Do đó, khi mua thịt người tiêu dùng cần lưu ý miếng thịt có tẩm hàn the rất tươi, cầm thấy cứng nhưng khô, thớ thịt săn, không dính... Khi cắt sâu vào bên trong, thịt khá nhũn, chảy dịch, có mùi, có độ đàn hồi kém.

- Trong trường hợp người bán còn pha phẩm màu với máu lợn để thoa vào miếng thịt cho thịt đẹp như thịt tươi. Loại thịt này khi rửa sẽ chuyển màu nhợt và có mùi tanh rất khó chịu. Thịt, mỡ có màu vàng cũng không nên mua.

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

8 bí kíp đơn giản để tránh xa bệnh ung thư

Căn bệnh ung thư nguy hiểm có thể được phòng ngừa hiệu quả bằng những bí kíp đơn giản dưới đây.

1. Một cốc bia mỗi ngày


Bia có thể giúp cơ thể chống lại Helicobacter pylori, một loại vi khuẩn được biết đến là nguyên nhân gây loét và có thể liên quan đến ung thư dạ dày. Vì vậy, nếu uống một lượng bia vừa phải sẽ mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Tuy nhiên, nếu uống nhiều hơn một hoặc hai cốc mỗi ngày sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư gan, ung thư thực quản và ung thư vòm họng. Đối với phụ nữ, uống một cốc bia mỗi ngày thậm chí làm tăng nguy cơ ung thư vú khoảng 10%.

Bia có thể giúp cơ thể chống lại Helicobacter pylori, một loại vi khuẩn được biết đến là nguyên nhân gây loét và có thể liên quan đến ung thư dạ dày.



2. Không ngồi một chỗ quá hai tiếng


Các nhà khoa học khuyến cáo, con người không nên ngồi nhiều để giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư. Trên thực tế, theo nghiên cứu của Đại học Regensburg ở Đức, nguy cơ bị ung thư, đặc biệt là ung thư tử cung, ung thư phổi tăng tới 10% nếu chúng ta ngồi một chỗ quá 2 tiếng mà không di chuyển.

3. Ướp thịt bằng nước ướp


Nướng thịt hay rán thịt ở nhiệt độ cao sẽ tạo ra nhiều chất hóa học có thể gây ra bệnh ung thư. Các nhà nghiên cứu đến từ Viện Nghiên cứu Ung thư (Mỹ) phát hiện ra rằng, việc ướp thịt bằng nước ướp có thể ngăn cản sự tiếp xúc trực tiếp của thịt với ngọn lửa, qua đó, làm giảm lượng chất hóa học gây ung thư được sản sinh.


4. Không để trái cây trong tủ lạnh


Nghiên cứu chỉ ra rằng, trái cây bảo quản trong tủ lạnh chứa hàm lượng chất dinh dưỡng chống ung thư ít hơn so với trái cây để ở nhiệt độ phòng.

5. Loại bỏ nến có mùi thơm


Dù bạn tin hay không, không khí trong nhà có thể bị ô nhiễm hơn ở ngoài trời. Ngoài khói thuốc, các loại hợp chất hữu cơ khác được giải phóng từ chất làm thơm phòng hay nến thơm cũng có thể là những chất gây bệnh ung thư. Dù chưa biết ảnh hưởng của những loại chất này đến sức khỏe như thế nào, chúng ta nên mở cửa sổ và cửa ra vào để không khí trong nhà luôn thông thoáng.

6. Hạn chế muối


Muối có liên quan đến 14% ca ung thư dạ dày ở Anh. Lượng muối mỗi ngày chúng ta nên bổ sung không quá 6 g (2,4 g natri).

7. Tắt hết ánh đèn khi ngủ


Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các ánh sáng nhân tạo về ban đêm có thể làm tăng nguy cơ của nhiều bệnh ung thư, bao gồm ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến. Các chuyên gia phát hiện, việc ngủ hoàn toàn trong bóng tối có thể làm gia tăng số lượng hormone melatonin, có thể phòng ngừa sự phát triển của một số bệnh ung thư.

8. Không để rau trong lò vi sóng


Thay vì để rau vào lò vi sóng bạn nên hấp thực phẩm này. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, việc để rau trong lò vi sóng sẽ làm giảm hàm lượng vitamin C.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

6 dấu hiệu nhận biết sớm bệnh ung thư vòm họng

Một số căn bệnh ung thư là rất khó khăn để nhận ra, và thường mọi người chỉ biết sau khi ung thư đến giai đoạn phát triển, trong đó có cả ung thư vòm họng.

Ung thư vòm họng là một bệnh ung thư ác tính, có tốc độ phát triển nhanh và cực kì nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh. Ung thư vòm họng do virus EBV gây ra.

Theo các chuyên gia sức khỏe thì virus EBV có thể nhiễm vào cơ thể và tồn tại lâu mà không gây tác động nào.

Mặc dù nguyên nhân của bệnh này chưa được xác định rõ ràng nhưng một số yếu tố sau đây được coi là có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vòm họng:

- Thường xuyên tiếp xúc với khói, bụi, môi trường kém thông khí, hoá chất (đặc biệt là các hydrocacbon thơm), ăn nhiều cá muối và các thức ăn lên men (dưa, trứng, các loại củ)...
- Uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá
- Do di truyền
- Do tuổi tác

Các dấu hiệu của ung thư vòm họng có thể khó xác định trong giai đoạn đầu của bệnh. Nhiều triệu chứng liên quan với bệnh ung thư cổ họng cũng giống như đau hoặc viêm họng thông thường.

ung thư vòm họng
Ung thư vòm họng là một bệnh ung thư ác tính.

Dưới đây là những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng mà bạn không được bỏ qua.


1. Khó nuốt


Khó khăn trong việc nuốt vào là một trong những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng. Có thể có một khối u phát triển trong cổ họng của bạn. Và nếu bạn cảm thấy sự tăng trưởng của khối u trong cổ họng, khối u sẽ ngăn chặn thực phẩm đi qua cổ họng của bạn.

2. Bề mặt thanh quản thô ráp


Bạn cảm thấy có một bề mặt thô ráp trong cổ họng của bạn? Cảm giác khó chịu này là rất khó để bỏ qua. Nếu bạn đã bắt đầu phát triển bệnh ung thư vòm họng, bạn sẽ tiếp tục cảm thấy dấu hiệu này.


3. Thay đổi trong giọng nói


Nếu bệnh phát triển xung quanh các dây thanh âm, nó sẽ dẫn đến giọng nói của bạn bị thay đổi. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ, ngay khi bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu của sự thay đổi trong âm thanh từ giọng của mình.

4. Ho kéo dài



Nếu bạn bị ho dai dẳng và khi khỏi, giọng bạn bị khàn đi, bạn nên chú ý đến dấu hiệu này. Đây là một trong những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng. Và nếu bạn bỏ qua những triệu chứng này, bạn có nguy cơ phát triển ung thư.

ung thư vòm họng
Các dấu hiệu của ung thư vòm họng có thể khó xác định trong giai đoạn đầu của bệnh.

5. Chảy máu cam


Một trong những dấu hiệu để chẩn đoán nguy cơ ung thư vòm họng là chảy nước mũi một bên và có kèm theo máu. Tuy nhiên, nhiều người thường có thói quen nuốt nước mũi và nhổ ra đường miệng nên có thể dẫn đến chẩn đoán nhầm.

6. Nổi hạch ở cổ


Do vòm họng có cấu trúc mô bạch huyết phong phú nên khi có sự xuất hiện của tế bào ung thư thì chúng sẽ nhanh chóng lây lan khắp vùng cổ. Khi các tế bào ung thư phát triển, nó sẽ dẫn đến các hạch cứng ở cổ dù không có cảm giác đau đớn.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

Thêm một yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư

Tiền tiểu đường làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư lên 15%.

Đây là kết luận được đưa ra sau một phân tích tổng quát dựa trên 16 nghiên cứu đăng trên tạp chí Diabetologia của Hiệp hội châu Âu về Nghiên cứu bệnh tiểu đường.


Tiền tiểu đường hay còn gọi là tiền đái tháo đường là một dạng rối loạn dung nạp glucose dẫn tới đường huyết cao nhưng chưa xếp vào mức bị tiểu đường. Tuy vậy, những người bị tiền tiểu đường rất dễ tiến triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2, và mới đây, các nhà khoa học còn cho biết tiền tiểu đường cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư.

Trong phân tích này, các nhà nghiên cứu tập trung vào hai tình huống về tiền tiểu đường: Giảm dung nạp glucose lúc đói (impaired fasting glucose =IFG) và Giảm dung nạp glucose (impaired glucose tolerance = IGT). Cả 2 tình huống này đều xuất hiện đường huyết cao hơn bình thường nhưng chưa đạt mức chẩn đoán là bệnh tiểu đường. Tuy nhiên ở giai đoạn tiền tiểu đường đã xuất hiện tình trạng kháng insulin, là bước khởi đầu trong tiến trình xuất hiện tiểu đường tuýp 2.

Nghiên cứu trước đây đã tìm ra nhiều tương quan giữa tiền tiểu đường và bệnh ung thư và vẫn chưa có kết luận cuối cùng. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã tập trung phân tích 16 nghiên cứu, trong đó bao gồm hơn 890.000 người từ châu Phi, châu Á, châu Âu đến châu Mỹ. Điều này giúp họ có thể kiểm soát các nhân tố như độ tuổi, chỉ số BMI, chủng tộc và các yếu tố khác để có thể hoàn toàn cô lập mối liên kết giữa tiền tiểu đường và ung thư.

bệnh ung thư
Tiền tiểu đường làm tăng nguy cơ mắc ung thư lên 15%

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng tiền tiểu đường đi kèm với sự gia tăng 15% nguy cơ mắc bệnh ung thư nói chung, và tỷ lệ này cũng khác nhau tùy vào loại ung thư. Cụ thể, tiền tiểu đường được cho là làm gia tăng đáng kể nguy cơ mắc các bệnh ung thư dạ dày/ ruột, gan, tụy, vú và ung thư cổ tử cung, trong khi chằng có mấy liên kết với nguy cơ ung thư phế quản/ phổi, tuyến tiền liệt, buồng trứng, thận, hay bàng quang. Nhìn chung, nguy cơ này cao nhất ở gan, cổ tử cung, và dạ dày/ đại trực tràng. Không có khác biệt trong kết quả thống kê giữa hai trường hợp IFG và IGT.

Vậy, điều gì có thể lý giải cho những phát hiện trên? Một giả thuyết được đưa ra rằng chứng tăng đường huyết mãn tính và các vấn đề xung quanh đó có thể trở thành "nhân tố gây bệnh ung thư." Hoặc có thể sự tăng đề kháng insulin đã khiến cho cơ thể tiết ra nhiều insulin hơn, làm cho tế bào ung thư có điều kiện phát triển và nhân rộng. Cuối cùng, một nhân tố cũng vô cùng đáng lưu ý khác là gen: liệu có tồn tại những đột biến nào làm cho một số người có nguy cơ mắc cả ung thư và tiểu đường cao hơn những người khác? 

Tuy vậy, các tác giả nghiên cứu khẳng định: "Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng về mặt y tế và lâm sàng. Xét dân số Hoa Kỳ trên 18 tuổi, tỷ lệ mắc tiền tiểu đường điều chỉnh theo độ tuổi tăng từ 29,2% trong giai đoạn 1999-2002 đến 36,2% trong giai đoạn 2007- 2010. Nhìn vào tỷ lệ mắc tiền tiểu đường cao như vậy, cùng với mối liên kết rõ ràng và đáng kể giữa tiền tiểu đường và bệnh ung thư thể hiện trong nghiên cứu này, chúng ta có thể có những can thiệp hiệu quả hơn nhằm tác động tích cực đến sức khỏe cộng đồng".

Tin tốt là, ai cũng cần thực hiện những biện pháp khoa học có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tiền tiểu đường. Bên cạnh đó, việc áp dụng các thói quen, lối sống lành mạnh có thể giúp mọi người tránh được những mối đe dọa đối với sức khỏe của bản thân.

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Oral sex tăng khả năng ung thư vòm họng?

Quan hệ tình dục bằng miệng (Oral sex) thường được các cặp đôi lựa chọn nhằm mang lại cảm giác mới lạ trong đời sống tình dục. Tuy nhiên, cách yêu này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bệnh, trong đó có căn bệnh ung thư vòm họng đáng sợ.


Nhiều người bệnh khi được chẩn đoán ung thư vòm họng mới ngỡ ngàng bởi cách yêu mà họ ưa thích bao lâu này, chính là mầm họa dẫn tới căn bệnh chết người.


Theo các bác sỹ, nguyên nhân gây ung thư vòm họng còn chưa được kết luận rõ ràng, nhưng chúng ta biết một số những yếu tố nguy cơ làm gia tăng khả năng mắc bệnh. Và một trong những yếu tố nguy cơ đó là do nhiễm virus HPV. Đây là loại vi rút có thể lây truyền qua đường tình dục bằng miệng.

HPV là gì?

HPV (Human papilloma vi rút) là một loại vi rút gây u nhú ở người, thường gây ra mụn cóc ở bộ phận sinh dục. Đây là loại bệnh phổ biến chỉ đứng thứ hai sau chlamydia trong số những bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục. Hầu hết các trường hợp, nhiễm HPV sinh dục không có triệu chứng rõ ràng, tự biến mất và không gây ảnh hưởng tới cuộc sống.

ung thư vòm họng


HPV có hơn 100 chủng khác nhau và trong đó có một số chủng gây ra bệnh ung thư. Hầu hết các trường hợp mụn cóc sinh dục được gây ra bởi các loại HPV 6 và 11, đây là những loại virus có nguy cơ gây bệnh ung thư tương đối thấp. Loại có nguy cơ gây ung thư cao nhất gồm HPV 16 và 18, có thể gây ra ung thư cổ tử cung ở phụ nữ. Nhiễm HPV cũng liên quan với ung thư dương vật, âm hộ, âm đạo, hậu môn, miệng và cổ họng. Các loại HPV khác có thể gây ra mụn cóc nhìn thấy như ở bàn tay và bàn chân.

HPV lây lan như thế nào?

HPV có thể lây lan qua quan hệ tình dục đường âm đạo, hậu môn, hoặc dùng chung đồ chơi tình dục. Tuy nhiên, không hẳn là khi quan hệ tình dục trực tiếp bạn mới bị nhiễm HPV, bởi loại virus này có thể lây lan qua tiếp xúc da với da. Nhiễm HPV cũng có thể lây lan qua đường tình dục bằng miệng. Sau khi nhiễm HPV, phải mất đến một năm mụn cóc mới phát triển.

Một số người bị nhiễm sẽ không có dấu hiệu nào, trong khi những người khác có thể nhìn thấy mụn cóc. Ở phụ nữ, mụn cóc xảy ra ở bên trong và bên ngoài của âm đạo, cổ tử cung hoặc xung quanh hậu môn. Ở nam giới, mụn cóc sinh dục có thể xảy ra vào đầu hoặc thân dương vật, hoặc xung quanh hậu môn.

HPV có thể lây truyền cho người khác khi mụn cóc xuất hiện, nhưng nó vẫn còn có thể lây siêu vi khuẩn trước khi mụn phát triển và sau khi mụn đã biến mất.

Những trường hợp dễ bị ung thư vòm họng khi quan hệ bằng miệng

Những người quan hệ tình dục sớm và quan hệ với nhiều người có khả năng bị nhiễm HPV cao gấp nhiều lần so với người khác, đặc biệt nếu quan hệ tình dục mà không sử dụng bất kỳ phương pháp bảo vệ nào.

Khi có những dấu hiệu sau, bạn cần đến ngay bác sĩ:

- Chảy máu mũi hoặc tắc nghẽn mũi

- Đờm có máu

- Các triệu chứng tai, bao gồm tai bị chẹn, tiếng ồn vang vọng, khiếm thính

- Đau đầu

- Cổ sưng lên từ các hạch bạch huyết phình to

- Mí mắt rủ xuống, hoa mắt, tê mặt từ sự liên quan của thần kinh sọ não

- Các triệu chứng của bệnh nặng như giảm cân, mệt mỏi, đau xương, v.v

Theo các bác sĩ, nếu phát hiện bệnh ung thư vòm họng ở những giai đoạn đầu, khả năng chữa khỏi hoàn toàn khá cao nếu được điều trị đúng hướng và tích cực.

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Học cách nói chuyện với mọi người về bệnh ung thư của bạn

Bạn bị bệnh ung thư? Đó là một điều tồi tệ với chính bản thân bạn. Thế nhưng, bạn cũng cần chia sẻ với gia đình, với những người xung quanh để mọi người hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng bạn những khó khăn sắp tới bạn phải đối mặt.


bệnh ung thư


1. Nói chuyện với gia đình bạn


Việc chẩn đoán bị mắc bệnh ung thư thường ảnh hưởng đến vai trò trong gia đình cũng như đến sinh hoạt. Bạn và người thân cần phải trao đổi về những thay đổi trong sinh hoạt gia đình. Bằng cách này có thể đưa ra những quyết định trong một nhóm và làm việc cùng nhau để đảm bảo mọi người đều cảm thấy thoải mái nhất với những thay đổi này.

Bệnh ung thư ảnh hưởng đến gia đình, không chỉ đến người mang nó. Các thành viên trong gia đình bạn có thể thỉnh thoảng sẽ cố gắng để “bảo vệ” bạn hoặc các thành viên khác trong gia đình từ những tin hay sự kiện buồn. Việc này xảy ra ngay tại các gia đình đang có con cái trưởng thành, nhưng bạn không thể bảo vệ ai đó suốt cả cuộc đời, và việc đó sẽ lấy đi năng lượng có thể sử dụng cho những việc khác tốt hơn.

Khi bạn cho các thành viên trong gia đình bạn biết bạn cảm nhận như thế nào, về tình thần lẫn thể chất, họ sẽ hiểu rõ hơn những gì bạn đang trải qua, hỗ trợ bạn và giúp đỡ bạn đưa ra những quyết định sáng suốt hơn.

2. Nói chuyện với trẻ nhỏ về bệnh ung thư


Nếu trong gia đình bạn có trẻ nhỏ, bạn có thể sẽ lo lắng không biết chúng sẽ phản ứng thế nào với bệnh ung thư của bạn. Cách đứa trẻ phản ứng với tin không vui thường sẽ phụ thuộc vào cách người lớn giải quyết vấn đề đó như thế nào.

Nhiều khi người lớn có những cảm xúc mạnh và riêng tư trước chẩn đoán ung thư, và họ có thể muốn bảo vệ con cái của mình bởi sự sợ hãi và lo lắng của họ. Các thành viên trong gia đình cần quyết định trước thời điểm nào phù hợp nhất để nói chuyện với đứa trẻ về căn bệnh ung thư.

Nếu đứa trẻ không có những câu trả lời trung thực nhất, điều mà chúng tưởng tượng ra có thể sẽ tồi tệ hơn và buồn phiền hơn. Cả người lớn và trẻ em đều phải học cách đối phó với bệnh ung thư và quá trình điều trị bệnh. Khi nói chuyện với trẻ em về bệnh ung thư, bạn cần cho chúng những thông tin trung thực nhất mà chúng có thể hiểu được. Sẽ tốt nhất nếu bạn chia sẻ từng ít thông tin một trong một quãng thời gian và để ý các câu trả lời phải phù hợp với lứa tuổi và khả năng nhận thức của chúng. Luôn nhớ cho bọn trẻ cơ hội để hỏi và có câu trả lời cho những câu hỏi của chúng.

Nếu bạn cần sự giúp đỡ của các chuyên gia, bạn có thể nhờ một người làm việc xã hội, một thầy thuốc gia đình hoặc người tư vấn của bệnh viện cùng nói chuyện với con bạn.

3. Bạn bè của bạn và họ hàng


Quyết định bàn về chẩn đoán bệnh của bạn với bạn bè và họ hàng là một vấn đề riêng tư. Bạn sẽ thấy rằng ban đầu bạn chỉ muốn chia sẻ với những người như vợ chồng hoặc 1 hay 2 người bạn hay thành viên trong gia đình. Sau đó bạn sẽ chia sẻ với nhiều người bạn hoặc người thân hơn. Quan trọng là bạn cần phải thành thật về bệnh ung thư của bạn. Giấu giếm có thể dẫn đến việc bạn càng căng thẳng khi bạn cần sự hỗ trợ của mọi người. Nên nhớ rằng bạn bè của bạn sẽ biết về bệnh của bạn ở một thời điểm nào đó. Nếu và khi họ biết, họ có thể cảm thấy tổn thương nếu bạn không chia sẻ với họ. Việc này cũng có thể làm họ khó hỗ trợ bạn hơn trong tương lai.

Trước khi nói cho mọi người về bệnh của bạn, hãy suy ngẫm kỹ cảm xúc của bạn và những lý do để nói ho họ biết, và bạn mong đợi gì từ họ. Mọi người sẽ có những phản ứng khác nhau trước tin bạn bị bệnh ung thư, nên bạn cần phải chuẩn bị trước. Nhiều khi mọi người sẽ không biết phải nói gì, và điều này làm họ cảm thấy không thoải mái. Họ cũng có thể sẽ buồn hay sợ sẽ làm bạn tổn thương. Họ có thể rời xa bạn và không giải thích đó là vì họ thấy buồn, một số người sẽ rất lịch sự và cẩn trọng không hỏi quá nhiều câu hỏi riêng tư.

Khi mọi người có thời gian thích nghi với tin này, cố gắng giúp họ hiểu những gì đang xảy ra với bạn. Giải thích loại bệnh ung thư bạn mắc phải và phương pháp điều trị bạn cần. Cho họ một bức tranh rõ ràng và thành thật về cuộc sống của bạn lúc này, nói với họ rằng bệnh ung thư không phải là án tử thần và họ không thể “lây bệnh” từ bạn. Tìm hiểu xem họ nghĩ và cảm nhận gì, cố gắng trả lời các câu hỏi của họ. Hãy thẳng thắn với mọi người bày tỏ những nhu cầu và cảm xúc của bạn. Thông thường sẽ căng thẳng hơn khi bạn giấu giếm cảm xúc của mình thay vì bày tỏ chúng, việc bày tỏ có thể sẽ giúp ích cho bản thân bạn và những người thân của bạn.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Phân mèo chữa được bệnh ung thư

Một nhóm các nhà khoa học tại Mỹ phát hiện một loại kí sinh trùng có trong phân mèo có công dụng kháng bệnh ung thư.

Các nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ tại Học viện Dartmounth tại TP Hanover đã nêu lên triển vọng bào chế vắc-xin phòng bệnh ung thư từ một loại ký sinh trùng có trong phân mèo.

 

Các nhà khoa học quan sát ký sinh trùng đơn bào tên Toxoplasma gondii (T. gondii) khu trú trong ruột của nhiều loại động vật máu nóng và đặc biệt là mèo.


bệnh ung thư

T. gondii có thể gây bệnh nhiễm ký sinh trùng (tomoplasmosis) với khả năng có những triệu chứng giống như cúm. Một vài dạng nặng xảy ra ở những người có hệ miễn dịch yếu với khả năng tổn thương não và mắt. Tuy nhiên, phần đông người nhiễm T. gondii không có triệu chứng gì. Con người có thể bị nhiễm T gondii do ăn thức ăn chưa chín kỹ, ăn thịt hoặc uống nước bị nhiễm ký sinh trùng và đặc biệt là tiếp xúc với phân mèo.

Tuy nhiên, đặc trưng đáng lưu ý nhất của T. godii, theo TS David J. Bzik và cộng sự, là công dụng kháng bệnh ung thư. Họ giải thích rằng khi ký sinh trùng này vào cơ thể, các tế bào chống ung thư hoạt động hiệu quả hơn - như các tế bào cytotoxic T được sản sinh do phản ứng của cơ thể và T.gondii có thể giúp khởi động lại hệ miễn dịch đã bị ung thư làm đình trệ.

Nhóm nghiên cứu xem xét biến đổi T.gondii, xem đó như “anh hùng siêu mạnh” có thể ngăn chặn bệnh ung thư phát triển. Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng có thể tiêm một dòng ký sinh trùng này cho bệnh nhân ung thư đang có hệ miễn dịch yếu mà không gây hại cho người bệnh.

Dòng ký sinh trùng này được họ gọi là “cps” có thể trở thành một dạng vắc-xin phòng ngừa và điều trị ung thư an toàn. Khi thử nghiệm cps trên chuột bị bệnh ung thư da và ung thư buồng trứng, tỷ lệ sống sót của chuột được điều trị tăng lên đáng kể. Nhóm nghiên cứu cho rằng vắc-xin cps đã kích hoạt hiệu quả miễn dịch trị liệu một cách đáng kinh ngạc, tối ưu hơn tất cả các liệu pháp trước đây.