Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Tầm soát ung thư không thể bằng cách xét nghệm máu

Khám sức khỏe định kỳ là biện pháp đơn giản và khoa học nhất để kiểm tra tình trạng sức khỏe của mình, phát hiện sớm các bệnh lý để điều trị kịp thời, đặc biệt là bệnh ung thư.


Tuy nhiên, trog thời gian gần đây, nhiều bác sĩ cho rằng các xét nghiệm máu có thể tầm soát ung thư nên thay vì thực hiện các phương pháp tầm soát ung thư cơ bản được Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra cho từng lứa tuổi và từng đối tượng thì lại cho bệnh nhân làm nhiều xét nghiệm để truy tìm các dấu ấn ung thư trong máu (Tumor marker).

Hậu quả là khi thấy nồng độ một chất tăng cao thì bệnh nhân sẽ được tiếp tục thực hiện một loạt các xét nghiệm y tế khác như chụp CT, nội soi dạ dày, ruột già, thậm chí đến cả chụp PET… để xác định xem có phải ung thư thật sự hay không. Điều này khiến cho bệnh nhân hoang mang lại gây mất nhiều thời gian và tiền bạc.

tầm soát ung thư

Về lý thuyết, khi tế bào ung thư phát triển sẽ sinh ra một số chất vào trong máu. Do đó, khi nồng độ một chất nào đó tăng cao thì có thể bệnh nhân đã bị ung thư, chẳng hạn như xét nghiệm CEA tăng cao thì có thể bệnh nhân bị ung thư đại tràng, AFP tăng cao có thể bị ung thư gan, CA125 tăng cao có thể bị ung thư buồng trứng, CA 19-9 tăng cao có thể bị ung thư dạ dày, tụy, ruột, mới đây còn có xét nghiệm DR 70 tầm soát 13 loại ung thư.

Nhưng trên thực tế, theo kết luận từ rất nhiều nghiên cứu về các dấu ấn ung thư đều khẳng định, không có một xét nghiệm máu nào có thể cho kết quả đáng tin cậy trong khảo sát, phát hiện sớm ung thư. Nhiều bằng chứng cho thấy chất CEA cũng tăng cao trong các trường hợp viêm loét ruột hoặc bệnh nhân hút nhiều thuốc, AFP tăng khi bệnh nhân bị viêm gan, CA 125 tăng trong nhiều trạng thái lành tính khác của phụ nữ như lạc nội mạc tử cung, PSA - xét nghiệm thường dùng nhất cho ung thư tiền liệt tuyến - cũng sẽ bị thay đổi khi bệnh nhân bị viêm tuyến tiền liệt.

Mới đây, website của Cơ quan Quản lý Thiết bị Y tế của Anh (UK MDA Medical Devices Agency) cũng đưa ra khuyến cáo là không thể sử dụng DR 70 để tầm soát ung thư vì không đủ chứng cứ y khoa. Như vậy, việc truy tìm dấu ấn ung thư thường được sử dụng trong các trường hợp theo dõi điều trị ung thư hoặc bổ sung thêm thông tin khi bệnh nhân có nguy cơ bị ung thư cao chứ không thể thực hiện trên người khỏe mạnh để tầm soát ung thư.

Ở các nước tiên tiến, bác sĩ gia đình (Family Practitioner) và bác sĩ đa khoa (General Practitioner) thường là người thực hiện việc khám sức khỏe tổng quát ban đầu. Bệnh nhân có thời gian trao đổi các vấn đề sức khỏe, bệnh sử bản thân và gia đình cho bác sĩ. Trên cơ sở đó và qua quá trình kiểm tra, thăm khám, bác sĩ sẽ khuyên bệnh nhân nên thực hiện các xét nghiệm nào cho phù hợp với lứa tuổi, nguy cơ của bệnh nhân đồng thời tư vấn các thói quen trong sinh hoạt (ăn uống, tập thể dục, chơi thể thao, chích ngừa...) để có những tác động tốt đến sức khỏe.

Trong khi đó, với cách tổ chức khám sức khỏe định kỳ của chúng ta hiện nay cùng tình trạng quá tải ở hầu hết bệnh viện, bệnh nhân không thể có thời gian được bác sĩ tư vấn. Thêm vào đó, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe ban đầu trong quản lý và điều hành y tế nên chúng ta chưa tận dụng hết chức năng của bác sĩ gia đình và bác sĩ đa khoa trong sàng lọc bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Vì vậy, muốn khám tổng quát, bệnh nhân phải đi một vòng từ chuyên khoa mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, da liễu... Với cách khám qua loa, bệnh nhân đi hết phòng này đến phòng khác mà kết quả hầu hết là bình thường. Kết quả này chắc chắn sẽ khả quan hơn nếu có quá trình sàng lọc và thăm khám sức khỏe ban đầu trươc khi đến với bác sĩ chuyên khoa.

Tóm lại, trong khám tổng quát không không nên lạm dụng nhiều xét nghiệm máu và cũng không cần thật nhiều bác sĩ chuyên khoa.

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

Selenium làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột.

Ung thư hiện nay vẫn đang là một gánh nặng cho toàn cầu. Một căn bệnh nguy hiểm mà khoa học vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị.


Phương pháp điều trị bệnh ung thư phổ biến hiện nay là phẫu thuật, hoá trị và xạ trị. Các phương thức này có thể làm giảm sự tiến triển của khối u, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ của người bệnh như: sụt cân, chán ăn, mệt mỏi, suy giảm sức đề kháng, dễ mắc bệnh khác.

Theo thống kê, 30% bệnh nhân ung thư chết do suy kiệt cơ thể trước khi chết vì bệnh ung thư đã phần nào cho thấy tác dụng phụ của hoá trị, xạ trị là đáng lưu tâm.

bệnh ung thư 

Tác dụng phụ thường gặp sau hoá trị và xạ trị của bệnh nhân ung thư là:

- Giảm sức đề kháng.

- Thiếu máu.

- Buồn nôn và nôn, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân.

- Rụng tóc: thường khởi phát từ 3-4 tuần sau chu kỳ điều trị đầu tiên.

Trên thực tế đa số người bệnh ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú trọng đến việc hạn chế đến mức thấp nhất tác dụng phụ của Hoá trị và Xạ trị. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy kiệt, sức khoẻ ngày càng giảm sút trầm trọng.

Kết quả một cuộc nghiên cứu mới của các nhà khoa học cho biết hàm lượng selenium cao trong máu có thể làm giảm thiểu đến 34% nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột.

Selenium là một lượng khoáng chất rất nhỏ có chứa trong vài loại thịt, gạo, hải sản. Tuy nhiên nếu bạn dùng nhiều loại thực phẩm có chứa selenium thì sẽ rất tốt, ngược lại nếu ít dung nạp các loại selenium vào cơ thể sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột và các loại ung thư khác.

"Selenium không những có thể bảo vệ bạn chống lại bệnh ung thư ruột mà còn giúp nam giới phòng ngừa ung thư tiền liệt tuyến và ung thư phổi”

Selenium giúp cân bằng các quá trình chuyển hóa trong cơ thể, chống oxy hóa mạnh và giảm tác dụng phụ có hại của hóa và xạ trị, hỗ trợ điều trị bệnh ung thư.

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Thực hư mối nguy ung thư từ trứng vịt lộn?

Nhiều bệnh nhân điều trị bệnh ung thư theo đuổi chế độ ăn uống kiêng khem khắc khổ, "tẩy chay" trứng vịt lộn với mong muốn rút ngắn thời gian hồi phục.


Không ít người loại bỏ trứng vịt lộn, giá đỗ, rau mầm trong thực đơn ăn hàng ngày với suy nghĩ nhóm thực phẩm này tốt cho tế bào ung thư, kích thích bệnh ung thư phát triển mạnh.


Về vấn đề này, ThS.BS Nguyễn Thị Minh Hương, trưởng khoa dinh dưỡng BV Ung bướu Hà Nội từng cho biết, chưa có bất cứ bằng chứng thuyết phục nào chỉ ra trứng vịt lộn góp phần thúc đẩy tế bào ung thư phát triển.

Thực tế, nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của tế bào bệnh ung thư có xu hướng cao hơn so với các tế bào khỏe mạnh. Ngay cả khi bệnh nhân ung thư không được cung cấp đầy đủ dưỡng chất, tế bào ung thư vẫn tự lấy năng lượng để phục vụ nhu cầu hoạt động của chúng thông qua quá trình "tự thực".

bệnh ung thư

Ở đó, "tự thực" diễn ra khi cơ thể không được cung cấp đủ dưỡng chất dẫn đến việc huy động nguồn protein có sẵn để tạo năng lượng. Hậu quả là khối nạc bị suy giảm nhanh chóng. Điều đặc biệt, "tự thực" tiến hành đồng thời với "xâm thực" khiến cơ thể người bệnh có khả năng đối diện với tình trạng suy kiệt nhanh chóng; không đủ sức để đáp ứng yêu cầu quá trình điều trị.

Bên cạnh đó, theo Đông y, trứng vịt lộn ăn cùng gia vị không chỉ là món ăn ngon mà còn có tác dụng trị chứng thiếu máu, suy nhược, còi cọc, đau đầu chóng mặt, yếu sinh lý… Riêng trứng vịt lộn có khả năng tu âm, dưỡng huyết, ích trí, giúp cơ thể nhanh tăng trưởng.

Dù chứa nhiều dinh dưỡng tốt cho sức khỏe song việc sử dụng nhất phải đúng liều lượng và đúng cách mới đem lại hiệu quả. Cụ thể, ăn quá nhiều trứng vịt lộn không hề tốt. Nó có khả năng làm tăng lượng cholesterol xấu trong máu, góp phần gây ra các bệnh tim mạch, huyết áp, tiểu đường…, tăng lượng protein, không tốt cho người mắc bệnh gút.

Để đảm bảo, trẻ em chỉ nên ăn tối đa 1 quả trong khi người lớn có thể tẩm bổ 2 qủa mỗi ngày.

Trẻ dưới 5 tuổi, hệ tiêu hóa kém cũng không nên tẩm bổ bằng loại thực phẩm này nhằm hạn chế tình trạng sình bụng, tiêu chảy.

Với người cao huyết áp, tiểu đường, viêm gan, gan nhiễm mỡ, tim mạch… cũng không nên ăn nhiều trứng vịt lộn nhằm tránh tắc nghẽn động mạch, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

Cơ chế chống ung thư của vitamin C

PGS.TS Lê Trần Ngoan, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết: Có nhiều nghiên cứu bệnh chứng cho thấy, các loại rau quả tươi chứa nhiều vitamin C có vai trò bảo vệ chống lại nguy cơ mắc bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày

Cơ chế chống bệnh ung thư của vitamin C hoạt động như chất chống oxy hóa trong dạ dày, làm giảm sự hình thành các gốc nitơ và oxy tự do.


phòng bệnh ung thư


Ngoài ra, các chất chống oxy hóa khác như beta-carotene và các carotenoid khác có khả năng ức chế gốc tự do sinh ung thư. Vitamin C cũng thúc đẩy nhanh lưu thông ống tiêu hóa, làm giảm thời gian tiếp xúc gây bệnh ung thư với niêm mạc dạ dày...

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

5 vitamin ngừa ung thư cực nhạy bạn nên dùng

Không có thực đơn ngăn ngừa bệnh ung thư tuyệt đối. Dù vậy, việc ăn uống lành mạnh góp phần giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh.


Beta carotene


Kết quả nghiên cứu khẳng định những người ăn nhiều beta carotene có tác dụng giảm nguy cơ ung thư dạ dày, ung thư phổi hiệu quả.

bệnh ung thư


Để tận dụng loại vitamin hữu ích này, bạn nên lựa chọn thực phẩm có màu cam, xanh lá như cà rốt, khoai lang, rau bina, cải xoăn… để chế biến món ăn hàng ngày.

Vitamin B6


Trong số các loại bệnh ung thư, vitamin B6 đặc biệt hiệu quả trong nỗ lực ngăn ngừa ung thư cổ tử cung. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ đường hô hấp khỏi sự tấn công của các chất ô nhiễm, nhiễm trùng.

bệnh ung thư

Nhìn chung, vitamin B6 khá dồi dào trong cà rốt, táo, nội tạng động vật, chuối, rau lá xanh và khoai lang.

Vitamin C


Vitamin C là một chất chống oxy hóa cực mạnh, có khả năng ngăn ngừa ung thư vú, buồng trứng, ung thư cổ tử cung.

Để đưa ra nhận định trên, các nhà khoa học tiến hành theo dõi 61 bệnh nhân ung thư. Ở đó, 30 bệnh nhân được bổ sung vitamin trong khi nhóm còn lại thì không. Quá trình theo dõi diễn ra trong vòng 5 - 7 tháng chỉ ra, các đối tượng sử dụng loại vitamin này có khả năng duy trì sự sống lâu hơn 13 - 21 lần.

Axit folic


Axit folic còn được biết đến với tên gọi axit folate, vitamin B9. Axit folic đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các hợp chất di truyền DNA và RNA. Đặc biệt, khi đi vào cơ thể, nó còn mang lại tác dụng chống lại sự hình thành, phát triển của tế bào ung thư cổ tử cung.

bệnh ung thư

Vitamin E


Ngoài khả năng chống lại bệnh ung thư ruột, vitamin E hoạt động như một chất chống oxy hóa mạnh góp phần giảm ảnh hưởng tiêu cực từ ozone và các chất ô nhiễm. Loại vitamin này dồi dào trong trứng, mầm lúa mì, gan, dầu thực vật và các loại rau màu xanh đậm.

Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Bệnh ung thư vòm họng giai đoạn cuối

70% bệnh nhân khi phát hiện ra bệnh đều được chẩn đoán đã ở giai đoạn 4 (giai đoạn cuối). Tỷ lệ sống cho giai đoạn này là rất thấp.


Tỷ lệ mắc ung thư vòm họng và tỷ lệ tử vong đang có chiều hướng tăng cao. Do vậy, nắm được nguyên nhân và triệu chứng của ung thư vòm họng có thể giúp bạn phát hiện ra ung thư ở những giai đoạn đầu, và cải thiện tỷ lệ sống.



ung thư vòm họng

Ung thư vòm họng giai đoạn cuối


Giai đoạn 1 là giai đoạn đầu tiên của bệnh ung thư. Trong giai đoạn này, khối u chỉ có kích cỡ nhỏ hơn 3cm, và được giới hạn ở vị trí ban đầu của nó trong cổ họng. Rất khó để phát hiện ung thư ở giai đoạn này vì giai đoạn này hầu như không có bất cứ triệu chứng nào. Khối u bắt đầu tăng gấp đôi kích thước, khoảng 5cm là khi ung thư vòm họng đã ở giai đoạn 2. Giai đoạn 3, khối u lớn hơn và các hạch bạch huyết bị nhiễm khuẩn.

Ung thư vòm họng giai đoạn cuối, khối u trở nên lớn hơn 6 cm. Ở giai đoạn này, ung thư lan tràn vào các mô lân cận (xung quanh môi và miệng).

Tiên lượng sống cho ung thư vòm họng giai đoạn cuối


Tiên lượng đối với ung thư vòm họng di căn (cơ quan xa của cơ thể bị tấn công) là không thuận lợi như dự đoán ở giai đoạn một. Trong giai đoạn thứ tư, ung thư tấn công các mô và cơ quan gần đó, và rất khó để loại bỏ. Phẫu thuật bóc tách cổ có thể là một lựa chọn bác sĩ đưa ra, nó giúp loại bỏ các tế bào ung thư đã lan tràn ra ngoài vị trí ban đầu. Hóa trị và xạ trị sẽ giúp tiêu diệt các tế bào ung thư còn lại.

Hầu hết các bệnh nhân khi phát hiện bệnh, đều được chẩn đoán ung thư vòm họng ở giai đoạn cuối, và tỷ lệ sống cho giai đoạn này là rất thấp.

Lựa chọn duy nhất cho bệnh nhân là loại bỏ cổ họng hoặc thanh quản, hoặc cả 2. Sau phẫu thuật như vậy, bệnh nhân cần phục hồi một số chức năng như tìm hiểu kỹ thuật thở mới và cách thức để nói. Họ cần phải biết làm thế nào để sử dụng dây thanh âm của họ đúng cách. Bệnh nhân cũng có thể cần trợ giúp bằng giọng nói hoặc cơ cấu lại phẫu thuật để nói. Phẫu thuật có thể liên quan đến việc tạo ra một đường mới để đưa thức ăn vào.

Tỷ lệ sống còn đối với ung thư vòm họng (giai đoạn rất sớm) là gần 98%. Tỷ lệ sống sót sau năm năm cho giai đoạn 1 là 90%, có nghĩa là khoảng 90% bệnh nhân được chẩn đoán ung thư giai đoạn 1 sẽ sống được 5 năm trở lên. Tỷ lệ sống cho giai đoạn 2 là 75%, và giai đoạn 3, là khoảng 60%. Giai đoạn 4, tỷ lệ sống sót là rất ít, chỉ có 30%. Điều này có nghĩa là chỉ có 30% những người bị ung thư ở giai đoạn 4 sẽ tồn tại trong vòng 5 năm.

Những con số này không thể dự đoán tuổi thọ của bệnh nhân một cách chính xác, bởi tuổi tác, sức khỏe, và tiến triển bệnh của mỗi người khác nhau. Khi bệnh di căn rất khó điều trị, và tỷ lệ sống rất thấp. Do vậy, phát hiện ung thư vòm họng ở giai đoạn đầu đóng một vai trò quan trọng trong việc điều trị, và tăng tuổi thọ của bệnh nhân. Vì vậy, nếu có bất kỳ triệu chứng nào, dù là nhỏ nhất bạn cũng không nên bỏ qua mà cần đi khám ngay lập tức.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Ung thư vòm họng: Phát triển nhanh và cực kỳ nguy hiểm

Ung thư vòm họng là một bệnh ung thư ác tính, có tốc độ phát triển nhanh và cực kì nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh. Ung thư vòm họng do virus EBV gây ra.


ung thư vòm họng

Theo các chuyên gia sức khỏe thì virus EBV có thể nhiễm vào cơ thể và tồn tại lâu mà không gây tác động nào.

Mặc dù nguyên nhân của bệnh này chưa được xác định rõ ràng nhưng một số yếu tố sau đây được coi là có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vòm họng:

- Thường xuyên tiếp xúc với khói, bụi, môi trường kém thông khí, hoá chất (đặc biệt là các hydrocacbon thơm), ăn nhiều cá muối và các thức ăn lên men (dưa, trứng, các loại củ)...

- Uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá

- Do di truyền

- Do tuổi tác

Các dấu hiệu của ung thư vòm họng có thể khó xác định trong giai đoạn đầu của bệnh. Nhiều triệu chứng liên quan với bệnh ung thư cổ họng cũng giống như đau hoặc viêm họng thông thường.

Dưới đây là những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng mà bạn không được bỏ qua. 

1. Khó nuốt



Khó khăn trong việc nuốt vào là một trong những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng. Có thể có một khối u phát triển trong cổ họng của bạn. Và nếu bạn cảm thấy sự tăng trưởng của khối u trong cổ họng, khối u sẽ ngăn chặn thực phẩm đi qua cổ họng của bạn.

2. Bề mặt thanh quản thô ráp


Bạn cảm thấy có một bề mặt thô ráp trong cổ họng của bạn? Cảm giác khó chịu này là rất khó để bỏ qua. Nếu bạn đã bắt đầu phát triển bệnh ung thư vòm họng, bạn sẽ tiếp tục cảm thấy dấu hiệu này.

3. Thay đổi trong giọng nói


Nếu bệnh phát triển xung quanh các dây thanh âm, nó sẽ dẫn đến giọng nói của bạn bị thay đổi. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ, ngay khi bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu của sự thay đổi trong âm thanh từ giọng của mình.

4. Ho kéo dài


Nếu bạn bị ho dai dẳng và khi khỏi, giọng bạn bị khàn đi, bạn nên chú ý đến dấu hiệu này. Đây là một trong những dấu hiệu sớm của ung thư vòm họng. Và nếu bạn bỏ qua những triệu chứng này, bạn có nguy cơ phát triển ung thư.

5. Chảy máu cam


Một trong những dấu hiệu để chẩn đoán nguy cơ ung thư vòm họng là chảy nước mũi một bên và có kèm theo máu. Tuy nhiên, nhiều người thường có thói quen nuốt nước mũi và nhổ ra đường miệng nên có thể dẫn đến chẩn đoán nhầm.

6. Nổi hạch ở cổ 


Do vòm họng có cấu trúc mô bạch huyết phong phú nên khi có sự xuất hiện của tế bào ung thư thì chúng sẽ nhanh chóng lây lan khắp vùng cổ. Khi các tế bào ung thư phát triển, nó sẽ dẫn đến các hạch cứng ở cổ dù không có cảm giác đau đớn.