Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

7 cách làm giảm nguy cơ ung thư thực quản bạn nên biết

Nếu bạn đang tự hỏi làm thế nào để giảm nguy cơ ung thư thực quản cho người thân trong gia đình và bản thân, hãy làm theo những lời khuyên dưới đây.

Trong 20 năm qua, số lượng ca được chẩn đoán ung thư thực quản trên thế giới đã tăng hơn 400%. Căn bệnh này có thể không được phát hiện ra cho mãi tới giai đoạn cuối, và triệu chứng phổ biến nhất thường lại rất dễ bị bỏ qua như chứng ợ nóng liên tục.

Nếu bạn đang tự hỏi làm thế nào để giảm nguy cơ ung thư thực quản cho người thân trong gia đình và bản thân, hãy làm theo những lời khuyên dưới đây:

1. Tập thể dục đều đặn

Có vẻ như việc tập luyện thân thể luôn nằm hàng đầu trong danh sách lời khuyên để phòng chống bất cứ bệnh nào? Trên thực tế, nó có tác dụng rất tích cực. Hoạt động thể chất giúp giảm nguy cơ bị thừa cân hoặc béo phì, hai căn bệnh phổ biến có thể làm cho bệnh trào ngược dạ dày và chứng ợ nóng trở nên tồi tệ hơn.

Thuốc chống và ngăn chặn ung thư tái phát

Các nhà khoa học tin rằng thuốc này làm tăng kháng tự nhiên của cơ thể có thể giúp chống lại các bệnh ung thư và ngăn chặn chúng tái phát.

Các nhà khoa học Anh đã phát hiện ra một loại thuốc có tác dụng chống ung thư nhờ đẩy mạnh sức đề kháng và ngăn ngừa bệnh tái phát bằng cách tăng khả năng miễn dịch tự nhiên của cơ thể.

Mới đây, các nhà khoa học đã rất ngạc nhiên khi thấy chất ức chế Delta cũng có tác dụng đối với các bệnh ung thư khác chứ không phải chỉ với bệnh ung thư máu như trước đây.

Loại thuốc dạng uống này đã được thử nghiệm thành công với bệnh nhân ung thư bạch cầu. Hiện nay, các nhà khoa học tại Đại học UCL và Viện Babraham thuộc Đại học Cambridge (Anh) đã phát hiện ra chất ức chế cùng loại cũng có hiệu quả chống lại ung thư phổi, ung thư tuyến tụy, ung thư da và ung thư vú... 

Những yếu tố tiềm ẩn làm tăng nguy cơ ung thư

Có những yếu tố tưởng chừng hết sức bình thường, không gây hại cho sức khỏe của bạn nhưng thực tế nó lại tiềm ẩn nguy cơ ung thư cao mà bạn không biết.

Nếu bạn có thói quen thức khuya, dùng nước súc miệng, không dùng kem tránh nắng hay ăn nhiều dầu mỡ... thì bạn cần xem xét lại vì chúng hoàn toàn có thể gây ra những tác hại mà bạn không ngờ đến, đó là gây các bệnh ung thư đe dọa sức khỏe của bạn.

1. Làm ca đêm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú

Một nghiên cứu của Hiệp hội ung thư Đan mạch khuyến cáo, phụ nữ thường xuyên làm việc về đêm có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn so với những người ít thức khuya. Nguyên nhân là do thức khuya hay hoạt động về đêm khiến cho đồng hồ sinh học của cơ thể bạn bị phá vỡ, quá trình sản xuất hormone tự nhiên của cơ thể bị cản trở và hoạt động không tốt. Bên cạnh đó, về ban đêm, phải tiếp xúc nhiều với ánh sáng sẽ làm hủy hoại loại hormone có chức năng ức chế khối u, vậy nên, nguy cơ mắc các bệnh ung thư nói chung cũng tăng.

12,7 triệu ca mắc ung thư mỗi năm

Bình quân mỗi năm trên thế giới có 12,7 triệu ca mắc mới bệnh ung thư và 7,6 triệu ca tử vong.


Một ca mổ ung thư vú (loại ung thư gặp nhiều nhất ở phụ nữ trên thế giới) ở TP.HCM - Ảnh: Thanh Tùng

Nhận biết sớm ung thư cổ họng

Đa phần bệnh ung thư rất khó nhận biết. Tuy vậy, với ung thư cổ họng, nhiều dấu hiệu bệnh có thể nhận biết sớm, theo Boldsky.

Khó nuốt: Khó nuốt là một trong những dấu hiệu sớm của ung thư cổ họng. Ung thư làm cho khối u phát triển trong cổ họng của người bệnh, làm ngăn cản việc lưu thông thực phẩm.

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

Chảy máu cam thường xuyên là bệnh gì?

Anh em hay bị chảy máu cam và có khi chảy máu ở tai. Em nghi ngờ anh bị bệnh tủy, liệu có phải như vậy không, AloBacsi?

Chào Alobacsi.vn, Em có một người anh trai cao 1m85 nặng 85kg. Anh em hay bị chảy máu cam và có khi chảy máu ở tai (chỗ dái tai). Em nghi ngờ anh mình bị bệnh tủy, liệu có phải như vậy không ạ? Em rất lo lắng mong AloBacsi giải đáp giúp em ạ! (Thu Nhi – Quận 4, TPHCM)

Ảnh minh họa
Bạn Nhi thân mến,

Chảy máu cam thường do các nguyên nhân sau đây:

- Chấn thương mũi: ngoáy mũi, va đập trực tiếp vào mũi (tai nạn, ngã...).

- Viêm mũi xoang: cúm nhiễm virus, viêm xoang nhiễm trùng…

- Lệch vách ngăn mũi.

- Ung bướu (u xơ vòm, ung thư vòm mũi họng).

- Bệnh phình mạch máu trong mũi.

- Cao huyết áp.

- Bệnh do rối loạn quá trình đông máu: các bệnh lý huyết học...

- Dị vật: Khi thấy chảy máu và mủ một bên mũi, cần nghĩ đến tình trạng có dị vật ở đường thở.

- Không khí quá khô (độ ẩm thấp).

- Một số trường hợp máu cam đổ không rõ nguyên nhân, máu đột ngột chảy và tự cầm.
Khi chảy máu nhiều và kéo dài gây sự thiếu máu, đôi khi có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe. Do đó, bạn hãy nhanh chóng đưa người tới bệnh viện khám và điều trị ngay nhé!

BS.CK1 Nguyễn Hồng Dũng - AloBacsi.vn

Ăn uống là "thủ phạm" gây ung thư?

Hiện nay bệnh ung thư có xu hướng gia tăng nhanh ở nước ta. Có nhiều lý do giải thích về sự gia tăng của bệnh ung thư như vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm thực phẩm….

TS. Nguyễn Văn Hiếu – Bộ môn Ung thư – Trường ĐH Y Hà Nội cho biết, những hiểu biết và quan tâm đối với ung thư của giới y khoa cũng như cộng đồng đã làm tăng thêm việc phát hiện và chẩn đoán bệnh ung thư. Vấn đề dinh dưỡng cũng là một yếu tố quan trọng liên quan chặt chẽ đến sự phát sinh và phát triển của căn bệnh ung thư.

Theo các nhà nghiên cứu ung thư học, dinh dưỡng đóng vai trò khoảng 35% trong các nguyên nhân gây bệnh ung thư (trong khi vai trò của thuốc chiếm khoảng 30%). Nhiều bệnh ung thư có liên quan đến dinh dưỡng như ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư đại trực tràng, ung thư vòm mũi họng, ung thư vú, ung thư nội tiết…

Mối liên quan giữa dinh dưỡng và ung thư được thể hiện ở hai khía cạnh chính: trước hết là sự có mặt của các chất gây ung thư có trong các thực phẩm, thức ăn, đồ uống; vấn đề thứ hai có liên quan đến sinh bệnh học ung thư là sự hiện diện của các chất đóng vai trò làm giảm nguy cơ gây ung thư (vitamin, chất xơ…) đồng thời sự mất cân đối trong khẩu phần ăn cũng là một nguyên nhân sinh bệnh.

Các chất gây ung thư có trong thực phẩm

Nitrosamin: nitrosamine và các hợp chất N-nitroso khác, là những chất gây ung thư thực nghiệm trên động vật. Những chất này thường có mặt trong thực phẩm với 1 lượng nhỏ. Các chất nitrit và nitrat thường có tự nhiên trong các chất bảo quản thịt, cá và các thực phẩm được chế biến, trong dưa cà khú hỏng.

Tiêu thụ nhiều thức ăn có chứa nitrit và nitrat có thể gây ra ung thư thực quản, dạ dày. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại thực phẩm ướp muối, hay ngâm muối như cá muối, có hàm lượng nitrosamine cao.

Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á thường tiêu thụ loại thực phẩm này có liên quan đến sinh bệnh ung thư vòm mũi họng.

Các nhà khoa học Nhật Bản chỉ ra việc tiêu thụ nước mắm, chứa một hàm lượng nitrosamine cao, liên quan đến ung thư dạ dày.

Những nhà khoa học nước ta đang nghiên cứu loại thực phẩm dưa muối, cá muối, đặc biệt là dưa muối bị khú, có hàm lượng nitrosamine cao, có thể có liên quan đến ung thư ngày càng tăng ở nước ta.

Aflatoxin: aflatoxin sinh ra từ nấm mốc Aspergillus flavus. Đây là một chất gây ra bệnh ung thư gan, bệnh phổ biến ở các nước nhiệt đới.

Loại nấm mốc này thường có trong các ngũ cốc bị mốc hoặc là lạc mốc, việc tiêu thụ các thực phẩm này là một nguyên nhân gây bệnh ung thư gan.

Chất phụ gia và các chất gây nhiễm khác có trong thực phẩm: các nhà khoa học phương Tây cho thấy sử dụng một số phẩm nhuộm thực phẩm có thể gây ra ung thư, như chất paradimethyl amino benzene dùng để nhuộm bơ thành “bơ vàng” có khả năng gây ung thư gan.

Tại các nước này sử dụng các phẩm nhuộm thức ăn cũng như các chất phụ gia được kiểm duyệt rất nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn thực phẩm.

Việc sử dụng phẩm màu công nghiệp trong chế biến thức ăn ở nước ta còn chưa được quản lý nghiêm ngặt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng và đây cũng là một trong những tác nhân gây ung thư.

Không mua các thức ăn có màu sắc sặc sỡ hoặc nghi ngờ có sử dụng phẩm màu không cho phép. Nên dùng các màu sắc tự nhiên trong chế biến thức ăn như màu đỏ của cà chua, gấc; màu vàng của nghệ.

Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra các thực phẩm có chứa các dư lượng, tàn tích của các thuốc trừ sâu, không chỉ có thể gây ra ngộ độc cấp tính mà còn khả năng gây ung thư. Do vậy, vấn đề an toàn thực phẩm, tiêu thụ rau sạch hiện nay đang được xã hội quan tâm.

Cách nấu nướng và bảo quản thực phẩm: Một số cách nấu thức ăn và bảo quản thực phẩm có thể sẽ tạo ra chất gây ung thư. Những thức ăn hun khói có thể bị nhiễm benzopyren, một chất gây ung thư thực nghiệm. Việc nướng trực tiếp thịt ở nhiệt độ cao có thể tạo ra một số sản phẩm có khả năng đột biến gen như dioxin, hydro-cacbon thơm đa vòng…

Dinh dưỡng và ung thư

Chất béo và thịt: các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy có mối liên quan giữa bệnh ung thư đại trực tràng với chế độ ăn nhiều mỡ, thịt động vật.

Chế độ ăn nhiều mỡ, thịt gây ung thư qua cơ chế làm tiết nhiều axit mật, chất ức chế quá trình biệt hóa của các tế bào niêm mạc ruột. Các nhà khoa học đã nghiên cứu mối liên quan chặt chẽ tiêu thụ chất béo với ung thư vú. Tỷ lệ tử vong do mắc ung thư vú tăng theo mức tiêu thụ mỡ.

Hoa quả và rau xanh: trong hoa quả và rau xanh chứa nhiều vitamin và chất xơ. Các chất xơ làm hạn chế sinh ung thư do chúng thúc đẩy nhanh lưu thông ống tiêu hóa, làm giảm thời gian tiếp xúc của các chất gây ung thư với niêm mạc ruột, mặt khác bản thân chất xơ có thể gắn và cố dịnh các chất gây ung thư để bài tiết theo phân ra ngoài cơ thể.

Các loại vitamin A, C, E làm giảm nguy cơ ung thư biểu mô, ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư phổi… thông qua quá trình oxy hóa, chống đột biến gen. Đặc biệt các loại rau thơm và rau gia vị với các thành phần chống oxy hóa (carotene, vitamin C…) và các tinh dầu không chỉ kích thích tiêu hóa mà còn hạn chế và ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư.

Như vậy, ăn uống có liên quan chặt chẽ với bệnh ung thư.

Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống nhiễm các hóa chất gây ung thư trong thức ăn, việc thực hiện chế độ ăn cân đối hợp lý, tránh thái quá mỡ, thịt động vật, đồng thời tăng cường tiêu thụ trái cây và rau xanh không chỉ là biện pháp dự phòng bệnh ung thư mà còn có thể phòng chống được nhiều bệnh khác.

AloBacsi.vn
Theo VnMedia

Aspirin có thể giúp giảm nguy cơ ung thư tuyến tụy

Aspirin có thể giúp giảm nguy cơ ung thư tuyến tụy
Những người sử dụng aspirin liều thấp giảm một nửa nguy cơ ung thư tuyến tụy.

Ảnh minh họa - nguồn internet

Các nhà nghiên cứu Mỹ đã theo dõi 362 bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy và 690 người khác ở 30 bệnh viện ở Connecticut (Mỹ) từ năm 2005-2009 về liều lượng sử dụng aspirin. Kết quả cho thấy, những người sử dụng aspirin liều thấp giảm một nửa nguy cơ ung thư tuyến tụy.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả mọi người nên dùng aspirin hàng ngày để ngăn ngừa ung thư tuyến tụy, vì thuốc aspirin có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết và các biến chứng đe dọa tính mạng.

AloBacsi.vn
Theo An Ninh Thủ Đô

Cuống lưỡi có khối u như trong ảnh là dấu hiệu bệnh ung thư?

Câu hỏi :
Cuống lưỡi có khối u như trong ảnh là dấu hiệu bệnh ung thư?
Gửi bác sĩ,

Em được chuẩn đoán là bị amidan quá phát, nhưng tự quan sát trong họng em thấy trên lưỡi nổi nhiều hạt hồng khá to, cuống lưỡi có khối u màu trắng, em không biết liệu mình có bị ung thư vòm họng do nhiễm virus HPV không?

Em bị tình trạng này cũng được nửa năm rồi. Em không bị đau nửa đầu, chảy máu cam, ù tai, chỉ thấy nuốt hơi vướng thôi. Mong bác sĩ giải đáp giúp em. 

(Trang Bo – nguyenthuy…@gmail.com)

BS-CK1 TMH Nguyễn Hồng Dũng:
Ảnh minh họa
Bạn Trang thân mến,

Những hình ảnh và triệu chứng bạn nêu là hậu quả của viêm amidan quá phát độ 3. Khi viêm amidan quá phát, nhu mô amidan có chứa chiều nang bã đậu nên làm cho hơi thở không thơm tho (hôi miệng). Hay khạc ra những chất bã đậu như hạt cơm, rất hôi. Bởi vậy, phẫu thuật cắt amidan là chỉ định phù hợp. Bạn trở lại bệnh viện tái khám và xin ý kiến bác sĩ điều trị việc cắt amidan nhé.

Hình ảnh bạn băn khoăn không phải là hình ảnh ung thư, đó là hình ảnh amidan đáy lưỡi, chúng cũng quá phát to lên. Bạn hãy yên tâm học tập, làm việc nhé.

AloBacsi.vn

Củ gừng xua tan nỗi lo mất ngủ

Không chỉ là gia vị, gừng còn được biết đến như một vị thuốc quý chữa bệnh mất ngủ kinh niên vô cùng hiệu quả.

Củ gừng chữa chứng mất ngủ

Chữa chứng mất ngủ

Có nhiều nguyên nhân gây mất ngủ, có thể chỉ là những lo âu hay căng thẳng nào đó trong đời sống hàng ngày chưa được giải quyết ổn thỏa; những hành vi cá nhân như hút thuốc lá, uống cà phê nhiều, thay đổi múi giờ khi đi xa, làm việc ca đêm, ăn quá nhiều quá no trong đêm; hoặc những bệnh lý thực thể đều có thể gây mất ngủ.

Theo y dược học hiện đại, gừng có tinh dầu 2% - 3%, chất nhựa 5%, chất béo 3% tinh bột và các chất cay như zingeron, shogaola. Gừng và tinh dầu chiết xuất từ gừng cón có tác dụng chữa chứng mất ngủ kinh niên.

Cách làm:

Cách 1:

Cho 1 củgừng vào nước lạnh (khoảng 500ml, cho 1 lần uống) đun sôi, sau khi nước sôi cho đường phên vào (lượng vừa đủ cho lượng nước 500ml), tiếp tục đun nhỏ lửa khoảng 15 phút là được. Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.

Cách 2:

Giã nát 1 củ gừng hòa vào 500ml nước ấm, cho thêm chút muối và khuấy đều. Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.

Lưu ý:

Ngày nào uống thì chế biến ngày ấy cho tươi mới là tốt nhất. Người bình thường muốn ngủ ngon đều có thể uống.

Thời gian đầu khi mất ngủ trầm trọng, có thể uống khoảng 1 lít nước đường gừng hoặc muối gừng. Sau 1 thời gian khi bệnh đã chuyển, có thể giảm xuống uống 500ml rồi dần dần duy trì cách ngày uống 1 lần 500ml.

Nếu có điều kiện,bạn có thểngâm chân bằng nước gừng nóng hay muối nóng trước khi đi ngủ để có được giấc ngủ sâu và ngon.

Lưu ý khi sử dụng gừng

1. Không nên gọt vỏ: Nhiều người gọt vỏ khi ăn gừng mà không biết rằng vỏ gừng cũng có rất nhiều công dụng chữa bệnh. Vì vậy khi ăn gừng nên rửa sạch sau đó sử dụng theo mục đích.

2. Không nên ăn gừng trong thời gian dài: Những người mắc những bệnh dưới đây không nên ăn gừng liên tục: âm hư hỏa vượng, nhiệt trong, mắc các bệnh mụn nhọt, viêm phổi, phù thũng phổi, hạch phổi, viêm dạ dày, viêm gan, viêm thận, bệnh tiểu đường…

3. Không dùng gừng cho người say nắng: Khi bị cảm lạnh uống nước gừng sẽ rất hiệu quả. Tuy nhiên, trái lại đối với những trường hợp cảm mạo thử nhiệt, cảm mạo phong nhiệt hoặc bị trúng nắng tuyệt đối không cho dùng gừng.

4. Không nên ăn gừng tươi đã bị dập: Chắc chắn nhiều người không biết rằng củ gừng tươi sau khi bị dập sẽ sinh ra một loại độc tố mạnh có thể gây hoại tử các tế bào gan, lâu dần sẽ biến thành ung thư gan, ung thư thực quản.

5. Không nên ăn nhiều gừng: Mặc dù gừng có nhiều tác dụng nhưng không nên quá lạm dụng.

AloBacsi.vn
Theo N.D - Báo Đất Việt

Mít - "Siêu trái cây" chống ung thư và lão hóa

Ngoài vitamin C, mít còn rất giàu các chất dinh dưỡng thực vật như ignans, isoflavones và saponins. Những chất có đặc tính chống ung thư và chống lão hóa.

Tăng cường hệ thống miễn dịch

Mít rất giàu vitamin C, một loại chất dinh dưỡng giúp cơ thể chống lại virus và vi khuẩn. Vitamin C giúp tăng cường chức năng hệ thống miễn dịch bằng cách hỗ trợ chức năng của các tế bào máu trắng.

Chống lại bệnh ung thư

Ngoài vitamin C, mít còn rất giàu các chất dinh dưỡng thực vật như ignans, isoflavones và saponins. Những loại chất có đặc tính chống ung thư và chống lão hóa. Có điều này do các chất dinh dưỡng thực vật có khả năng loại bỏ các gốc tự do gây ung thư ra khỏi cơ thể và làm chậm quá trình thoái hóa của tế bào.

Giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Mít cũng chứa các chất có thuộc tính chống loét và rối loạn tiêu hóa. Không chỉ vậy, mít còn có nhiều chất xơ. Vì vậy mít giúp ngăn ngừa táo bón và đi tiêu dễ dàng hơn. Loại chất xơ này cũng có tác dụng loại bỏ các màng nhầy bám ở ruột, từ đó giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột già (đại tràng).

Duy trì sức khỏe cho đôi mắt và làn da

Mít có chứa nhiều vitamin A, một loại chất dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của đôi mắt và làn da. Bên cạnh đó, mít còn có khả năng ngăn ngừa các bệnh liên quan đến mắt như thoái hóa điểm vàng và bệnh quáng gà.

Bổ sung năng lượng

Trong mít có đường fructose và sucrose, vì vậy mà nó có thể bổ sung năng lượng gần như ngay lập tức cho cơ thể. Điều tuyệt vời của mít chính là việc, nó rất giàu năng lượng nhưng lại không chứa chất béo bão hòa, cholesterol. Vì vậy, nó là loại trái cây tuyệt vời để ăn khi muốn tạo thêm năng lượng cho cơ thể.

Giảm huyết áp

Kali chứa trong mít đã được tìm thấy là hữu ích trong việc giảm huyết áp và làm giảm nguy cơ đau tim cũng như đột quỵ.

Giúp xương chắc khỏe

Mít rất giàu magiê, một chất dinh dưỡng quan trọng giúp tăng cường việc hấp thụ canxi của cơ thể. Magiê kết hợp với canxi sẽ giúp xương chắc khỏe, ngăn ngừa các rối loạn liên quan đến xương như loãng xương.

Ngăn ngừa thiếu máu

Mít cũng chứa nhiều chất sắt, vì vậy mà chúng có khả năng giúp ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Không chỉ vậy, các thành phần có trong mít cũng giúp tăng cường việc lưu thông máu trong cơ thể.

Giúp tuyến giáp khỏe mạnh

Đồng có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa của tuyến giáp, đặc biệt trong việc sản xuất hoócmôn. Trong mít có rất nhiều loại khoáng chất này. Vì vậy mà ăn mít thường xuyên sẽ giúp bạn có tuyến giáp khỏe mạnh.

AloBacsi.vn
Theo Pháp Luật Việt Nam/TTXVN

Tràn dịch màng phổi không chỉ đơn thuần bệnh lao

Tràn dịch màng phổi có thể gặp ở mọi lứa tuổi, ngay cả trẻ em, nhưng với người cao tuổi thường để lại hậu quả xấu nặng nề hơn. Vì vậy, cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Ở Mỹ, hàng năm có khoảng xấp xỉ một triệu trường hợp tràn dịch màng phổi được phát hiện; ở nước ta hàng năm có khoảng 1.000 trường hợp được chẩn đoán và can thiệp.

Nhiều nguyên nhân

Màng phổi gồm lá thành và lá tạng, giữa hai lá có khoảng trống. Bình thường trong khoảng trống có một ít dịch sinh lý để làm bôi trơn khi phổi hoạt động làm cho lá thành và lá tạng chuyển động nhịp nhàng. Khi lượng dịch vượt quá chỉ số sinh lý bình thường tức là có sự bài tiết xuất hiện làm ứ đọng dịch trong khoang màng phổi đến một mức độ nhất định sẽ gây tràn dịch màng phổi.

Thực chất của tràn dịch màng phổ là biểu hiện hoặc biến chứng của nhiều loại bệnh khác nhau. Tràn dịch màng phổi có thể do viêm phổi với nhiều căn nguyên đa dạng như: do vi khuẩn họ cầu khuẩn (tụ cầu, liên cầu, phế cầu), vi khuẩn Hemophilus influenzae, K.pneumoniae, Mycoplasma pneumoniae, vi khuẩn lao hoặc ung thư (phổi, di căn) hoặc một số bệnh khác.

Bệnh thường gặp nhất trong tràn dịch màng phổi là lao phổi. Tràn dịch màng phổi cũng có thể do u ác tính (các khối u lồng ngực đè vào ống ngực gây thoát dịch dưỡng trấp ra màng phổi) hoặc ung thư phổi.

Một số bệnh như: áp-xe dưới cơ hoành, áp- xe gan, xơ gan cổ trướng, viêm tuỵ tạng, viêm màng ngoài tim, suy tim sung huyết hoặc một số bệnh mạn tính như thấp khớp mạn hoăc luput ban đỏ cũng có thể gây nên tràn dịch màng phổi. Tràn dịch màng phổi có thể do u nang buồng trứng ở nữ giới (hội chứng Meigs).

Chấn thương lồng ngực hoặc sau phẫu thuật lồng có thể gặp tràn dịch màng phổi tuy rằng tỉ lệ gặp rất hiếm. Ngoài ra, tràn dịch màng phổi có thể do một số bệnh bởi ký sinh trùng gây nên (lỵ amíp, giun chỉ, sán lá gan).

Nhận biết tràn dịch màng phổi

Đau ngực là triệu chứng khởi đầu của tràn dịch màng phổi. Đau thường âm ỉ phía bên tràn dịch, nếu nằm nghiêng về phía bên đối diện thì sẽ đau tăng lên. Khó thở cũng là một triệu chứng thường gặp. Khó thở xuất hiện và mức độ khó thở tùy thuộc vào số lượng và tốc độ dịch tiết ra. Người bệnh có thể sốt. Sốt thường biểu hiện của triệu chứng nhiễm trùng và là phản ứng của cơ thể.

Nếu tràn dịch màng phổi xẩy ra ở người có tuổi, sức yếu hoặc bệnh hiểm nghèo thì thân nhiệt tăng lên không nhiều hoặc có khi không tăng lên (không sốt). Ho khan cũng có thể xuất hiện nhưng ho khan với số lần nhiều hay ít cũng như sốt cao hay sốt vừa còn tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh (viêm phổi do vi sinh vật, lao phổi thì ho nhiều hơn các bệnh như: áp-xe gan, áp-xe cơ hoành…).

Để chẩn đoán, ngoài các triệu chứng lâm sàng thì cần chụp X-quang phổi, hoặc chụp CT, cộng hưởng từ (MRI) phổi, gan mật và các cơ quan nghi bị bệnh gây tràn dịch màng phổi. Hiện nay, siêu âm là một phương pháp khá phổ biến để phát hiện tràn dịch màng phổi.

Nếu có điều kiện thì cần chọc dò màng phổi để xét nghiệm, quan sát màu sắc, tính chất của dịch tiết và xét nghiệm tế bào học, vi sinh, ký sinh. Xét nghiệm dịch màng phổi cũng có thể tìm thấy hồng cầu trong đó, nếu có hồng cầu có thể là nguyên nhân do ung thư phổi hoặc sau nhồi máu phổi. Trong những trường hợp cần thiết, người ta cần phải sinh thiết màng phổi để xác định nguyên nhân.

Nguyên tắc điều trị và dự phòng

Tràn dịch màng phổi có nhiều bệnh khác nhau, trong đó có những bệnh rất phức tạp như ung thư phổi, u ác tính các cơ quan lân cận, xơ gan, suy tim, suy thận. Vì vậy, khi thấy đau tức ngực, khó thở, sốt và các bất thường khác…cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt, nhất là ở người tuổi đã cao, sức khỏe đã suy giảm hoặc đã có tiền sử mắc các bệnh về phổi (lao phổi, viêm phổi, gãn phế quản), bệnh gan, bệnh tim.

Mỗi một loại bệnh khi xác định được và điều trị thì hầu hết bệnh sẽ ổn định, khỏi. Tuy vậy, sau tràn dịch màng phổi còn phải được theo dõi và điều trị tránh dày dính màng phổi ảnh hưởng rất lớn đến chức năng hô hấp. Hiện nay việc điều trị tràn dịch màng phổi có nhiều tiến bộ với kỹ thuật phẫu thuật nội soi.

Những người đang mắc bệnh lao thì cần điều trị thật tích cực, tuân thủ theo chỉ định điều trị của bác sĩ, không nên chủ quan, không được bỏ thuốc đang điều trị và cần có chế độ dinh dưỡng cũng như tập luyện một cách hợp lý để giữ gìn và nâng cao sức khỏe chống lại bệnh tật. Những người đã từng mắc bệnh lao đã điều trị khỏi cũng rất cần đi khám bệnh theo định kỳ để được theo dõi một cách nghiêm túc đề phòng bệnh tái phát.

Để tránh mắc các bệnh về phổi, áp-xe gan do vi khuẩn hoặc do ký sinh trùng thì cần có một môi trường sống tốt. Vì vậy, cần thực hiện vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Cần ăn chín, uống chín, không ăn các loại thực phẩm chưa nấu chín (tiết canh, gỏi cá, nem chua, nem chạo, rau sống). Không hút thuốc lá để phòng các bệnh về đường hô hấp. Cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Cần vệ sinh họng, miệng, răng thật sạch hàng ngày bằng hình thức đánh răng, súc họng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy.

AloBacsi.vn
Theo TTƯT.PGS.TS Bùi Khắc Hậu - Sức khỏe và Đời sống

Nguy cơ chuyển biến ung thư từ những nốt ruồi

Theo các chuyên gia, những nốt ruồi ở các vị trí thường xuyên bị cọ xát cần được xử lý sớm để tránh nguy cơ chuyển thành bệnh lý ác tính – ung thư hắc tố.

Ung thư hắc tố là một loại ung thư da, trong đó, u của tế bào sinh sắc tố melamin xuất phát từ da hay niêm mạc, đa số xuất phát từ những nốt ruồi. Đây là loại bệnh lý ác tính ít gặp hơn so với ung thư da không hắc tố. Nó chiếm khoảng 10% tổng số ca ung thư da nhưng tỷ lệ tử vong là 75% tổng số các trường hợp do ung thư hắc tố có tiên lượng rất xấu, dễ di căn, ít đáp ứng với điều trị.

Như chúng ta biết, melanine là một loại sắc tố đen được sản sinh từ các hắc tố bào (melanocyte) trong cơ thể. Khi hắc tố này tập trung nhiều vào một chỗ, sẽ tạo ra nốt ruồi. Như vậy, về mặt y học, nốt ruồi chính là những khối u hắc tố, do sự loạn sản lành tính và khu trú của sắc tố melanine. 

Đôi khi, nốt ruồi gặp những yếu tố kích thích kéo dài như cọ xát, phơi nắng… sẽ xảy ra những biến đổi ác tính và hình thành ung thư hắc tố. Người ta tìm thấy 1/3 trường hợp ung thư hắc tố xảy ra trên các nốt ruồi có sẵn.


Chàm bẩm sinh: kích thước khoảng 3 cm, thuộc dạng nhú (nổi lên). Sự biến đổi màu sắc của màu nâu, là bình thường, có thể thay đổi khi trưởng thành, và chàm có thể mọc lông. Tuy nhiên, chàm này nên được theo dõi nếu có dấu hiệu tổn thương ác tính, như là tăng kích thước, thay đổi màu sắc, loét, chảy máu, ngứa, hay đau.

Loại bỏ mối nguy hại từ nốt ruồi

Tuy rằng không phải bất kỳ nốt ruồi nào cũng mang đến hiểm họa ung thư hắc tố. Tuy nhiên, việc để ý theo dõi các dấu hiệu bất thường và đi khám bệnh sớm nếu thấy nghi ngờ là cần thiết, đặc biệt là những người có tiền sử gia đình từng có người bị ung thư da. Khi nốt ruồi có những biểu hiện đe doạ hoá ác tính hoặc trở thành ung thư, việc loại bỏ phải được cân nhắc thực hiện sớm, đúng cách.

Ngoài ra để phòng bệnh, một số nốt ruồi có nguy cơ chuyển thành ung thư cũng cần được xử lý sớm. Đó là những nốt ruồi ở các vị trí thường xuyên bị cọ xát như ở lưng quần; vùng râu, tóc; lòng bàn chân, gót chân…, hoặc với những người có làn da nhạy nắng như da trắng, những người thường xuyên phơi nắng hoặc người lớn tuổi có nốt ruồi…

Việc xử lý nốt ruồi cần phải có sự can thiệp của bác sỹ chuyên khoa chứ không được tự phá nốt ruồi bằng các phương pháp thiếu khoa học như bằng vôi ăn trầu, thuốc uốn tóc, hay thậm chí là axit. Xử lý nốt ruồi không đúng cách sẽ kích thích khiến thương tổn phát triển nhanh chóng và chuyển thành ác tính.

Đặc biệt, những nốt ruồi có nguy cơ ác tính cần được giải phẫu bệnh để phát hiện ung thư nếu có và xác định loại ung thư để có hướng điều trị. Có rất nhiều trường hợp là ung thư hắc tố nhưng người bệnh không biết nên đã đốt nốt ruồi từ trước, khi đó việc điều trị sẽ rất khó khăn vì không còn mẫu bệnh phẩm để phân tích loại ung thư.

Tầm soát ung thư hắc tố

Tầm soát ung thư hắc tố được thực hiện bằng tiểu phẫu lấy tổn thương hắc tố và phân tích mẫu bệnh phẩm xác để định nốt ruồi là tổn thương lành tính hay là ung thư hắc tố ác tính. Đồng thời xác định tính chất bệnh lý để có hướng xử lý hoặc điều trị kịp thời.

Hiện nay, việc giải phẫu bệnh tầm soát ung thư hắc tố có thể được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc.

Tại đây, việc xử lý nguy cơ ung thư hắc tố được thực hiện trọn gói và triệt để. Nếu tổn thương hắc tố không phải là ung thư có thể được giải phẫu thẩm mỹ giúp loại bỏ nốt ruồi mà không để lại sẹo. Trường hợp xác định ung thư hắc tố, hướng điều trị sẽ được đưa ra với sự trợ giúp của đội ngũ bác sỹ điều trị ung thư đến từ các bệnh viện lớn của Singapore đang hợp tác tại Khoa Ung bướu Singapore, Bệnh viện Thu Cúc.

Với ưu điểm trang thiết bị tầm soát ung thư hiện đại, đội ngũ bác sỹ giỏi hợp tác với Singapore, cùng với chi phí hợp lý, Bệnh viện Thu Cúc đang là địa chỉ tin cậy trong khám chữa bệnh nói chung và các bệnh lý liên quan đến ung thư nói riêng.

ALoBacsi.vn
Theo Tintuconline.com.vn

3 biến chứng nguy hiểm của bệnh đa nang buồng trứng

Bệnh đa nang buồng trứng cũng có thể để lại 3 biến chứng nguy hiểm cho người bệnh như ung thư nội mạc tử cung, bệnh tim, tiểu đường.

Thưa bác sĩ, em biết mình bị buồng trứng đa nang khi đi khám tổng quát sức khỏe đợt vừa rồi. Mặc dù bác sĩ nói bệnh này khá phổ biến và có thể chữa khỏi nhưng em rất lo lắng vì nghe nói bệnh cũng có những biến chứng nguy hiểm. Bác sĩ cho em hỏi, những biến chứng nguy hiểm của bệnh buồng trứng đa nang là gì? Mong bác sĩ tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn! (L. Thanh)

Bạn L. Thanh thân mến!

Hội chứng buồng trứng đa nang là một căn bệnh nguy hiểm, đe dọa đến chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Triệu chứng của bệnh này có thể khác nhau ở tùy người, nhưng hầu hết phụ nữ bị buồng trứng đa nang đều có thể gặp các biểu hiện phổ biến như: chu kì kinh nguyệt không đều, khó mang thai, rậm lông, mụn trứng cá mọc nhiều, đau vùng chậu, tăng cân đột ngột...


Bệnh đa nang buồng trứng cũng có thể để lại 3 biến chứng nguy hiểm cho người bệnh như ung thư nội mạc tử cung, bệnh tim, tiểu đường... Ảnh minh họa

Đúng là buồng trứng đa nang có thể được chữa hiệu quả nếu phát hiện và điều trị sớm. Nhưng đây là bệnh rất nguy hiểm và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản ở phụ nữ nếu không được điều trị sớm. Bệnh đa nang buồng trứng cũng có thể để lại 3 biến chứng nguy hiểm cho người bệnh như:

- Ung thư nội mạc tử cung: Do ảnh hưởng của estrogen nên lớp nội mạc tử cung sẽ dày lên để chuẩn bị đón trứng được thụ thai về đó làm tổ. Nếu người phụ nữ không thụ thai, lớp niêm mạc sẽ bong ra tạo nên hiện tượng kinh nguyệt. Trong khi đó, nếu chu kì kinh nguyệt bất thường hoặc mất kinh, niêm mạc tử cung cứ dày lên và không chịu bong ra do tác dụng của estrogen. Mức estrogen trong cơ thể cao làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.

- Bệnh tim: Bệnh nhân bị buồng trứng đa nang có nguy cơ tăng mức insulin, từ đó dẫn đến tăng cholesterol, huyết áp, xơ vữa động mạch, và làm tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ.

- Tiểu đường tuýp 2: Ở phụ nữ bị bệnh đa nang buồng trứng , tình trạng kháng insulin khiến lượng đường glucose trong máu tăng cao, dẫn đến nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2 và bệnh tiền tiểu đường. Điều này có thể xảy ra ở những phụ nữ thừa cân hoặc có trọng lượng bình thường.

Để phòng tránh bệnh phát triển các biến chứng, bạn nên điều trị bệnh tích cực theo phác đồ của bác sĩ. Ngoài ra, bạn cũng không nên lo lắng quá, giữ tinh thần vui vẻ, thoải mái là một trong những yếu tố quan trọng giúp bạn nhanh khỏi bệnh hơn.

Chúc bạn sớm khỏi bệnh!

AloBacsi.vn
Theo Afamily

Dùng thực phẩm chức năng như thế nào để có lợi?

Thực phẩm chức năng không phải là thuốc - Cần hiểu đúng công dụng của chúng.

Trong thực tế, không ít người dùng thực phẩm chức năng (TPCN) chưa thấy mặt có lợi đã gặp một số bất lợi. Đó là vì không hiểu hết công dụng thực phẩm chức năng và còn mơ hồ khi xem chúng như là thuốc chữa bệnh.

Vì sao thực phẩm chức năng không phải là thuốc?

Thực phẩm chức năng có quan hệ với thuốc nhưng không thể có tính năng thuốc chữa bệnh.

Quan hệ giữa thực phẩm chức năng và thuốc

Năm 1980, TS. Y khoa Stephen De Felice, người sáng lập “Quỹ cải tiến y học” đưa ra thuật ngữ “dược phẩm dinh dưỡng” (neutraceuticals), hàm nghĩa “thuốc - thực phẩm” để chỉ “loại thực phẩm được bổ sung hoạt chất hay thành phần tự nhiên nhằm tăng cường sức khỏe”.

Sau này dùng thuật ngữ “thực phẩm chức năng” (functionla foods). Ngoài ra, còn nhiều tên gọi khác như: “thực phẩm - thuốc” (alicaments ), “dược phẩm dinh dưỡng” (neutraceutics), “thực phẩm bổ sung dinh dưỡng” (food supplements).

TPCN là nơi giao thoa giữa thực phẩm và thuốc. Nếu thuốc chiếm ưu thế thì gọi là “thuốc - thực phẩm”. Nếu thực phẩm chiếm ưu thế thì gọi là “thực phẩm - thuốc”

Khác nhau trong định nghĩa quan niệm thực phẩm chức năng

Hiệp hội thông tin thực phẩm quốc tế (IFIC), Viện khoa học và đời sống quốc tế (ILSI), Viện Y học thuộc Hàm lâm khoa học Mỹ quan niệm TPCN rất rộng, bao gồm cả loại thực phẩm có chế biến hay không chế biến mang lại lợi ích sức khỏe... vượt xa hơn dinh dưỡng cơ bản hoặc thành phần dinh dưỡng truyền thống của nó. Theo đó, có nhiều loại thực phẩm được xếp vào nhóm TPCN.

Hiệp hội sức khỏe dinh dưỡng Nhật Bản, các cơ quan quản lý ở các nước trong khối EU quan niệm TPCN hẹp hơn, chặt chẽ hơn; chỉ bao gồm các loại thực phẩm đã bổ sung một số chất có lợi hay loại bỏ một số chất bất lợi; được chứng minh bằng cơ sở khoa học tác dụng của chúng lên các cơ quan chức năng của cơ thể (chứ không phải chứng minh hiệu quả chữa bệnh); được Bộ Y tế chấp nhận. Theo đó, chỉ có một ít loại thực phẩm được xếp vào nhóm TPCN.

Bộ Y tế Việt Nam định nghĩa: TPCN là thực phẩm hỗ trợ cho các bộ phận trong cơ thể, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ gây bệnh. Định nghĩa này tổng thể giống với đinh nghĩa đầu.

Giống nhau trong định nghĩa quan niệm thực phẩm chức năng

Cơ quan quản lý thuốc, thực phẩm các nước cũng có những định nghĩa quan niệm giống nhau về TPCN:

- TPCN phải có một thành phần nổi trội có lợi cho sức khỏe.

- TPCN không có tính chữa bệnh, không thay thế thuốc chữa bệnh.

- Không có sự phân định rạch ròi giữa TPCN với thuốc, giữa TPCN với thực phẩm thông thường.

- Nhà sản xuất TPCN phải đăng ký sản phẩm với cơ quan quản lý.

- Giấy phép lưu hành chỉ bao gồm hai nội dung.

Các cơ quan quản lý nhà nước chỉ đồng ý cho phép sản xuất, nhập khẩu sản phẩm đúng như đã tự nguyện công bố, chứng nhận sản phẩm có đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Không cơ quan quản lý nước nào bắt buộc nhà sản xuất phải chứng minh hiệu quả bằng thử nghiệm lâm sàng. Theo đó, giấy phép cũng không có nội dung chứng thực các công dụng mà nhà sản xuất ghi lên tờ giới thiệu, quảng cáo, nhãn.

Cần hiểu đúng công dụng TPCN

Hai loại công dụng TPCN

Loại công dụng có lợi cho sức khỏe (health claim) mà TPCN chắc chắn có:

Một vài ví dụ: YHCT dùng bạch thược, hy thiêm, sói rừng điều trị phong thấp, do đó, TPCN nào có chứa các thảo dược này thì chắc chắn có công dụng hỗ trợ điều trị viêm khớp dạng thấp. Hoặc nhiều nghiên cứu khoa học trong ngoài nước đều cho kết quả thống nhất là dịch chiết cây chè dây có tác dụng bao che, làm lành vết loét dạ dày nên TPCN chứa nguyên liệu này chắc chắn sẽ hỗ trợ điều trị viêm loét dạ dày.

Loại công dụng suy ra từ cấu trúc chức năng (structure /function claims) mà TPCN có tiềm năng nhưng chưa chắc chắn có được.

Chẳng hạn: nguyên lý chung là chất chống gốc tự do (như vitamin E, C, betacaroten, selen, alphalipoic acid, L-carnitin) làm chậm quá trình oxy hóa, ngăn ngừa quá trình lão hóa, ngăn ngừa sự biến dị DNA dẫn đến làm chậm sự xuất hiện phát triển ung thư. Khi TPCN có chứa các chất này, thì nhà sản xuất suy ra và giới thiệu có công dụng chống lão hóa, hỗ trợ điều trị ung thư. Trong thực tế, đây chỉ là tiềm năng chưa hẳn là có được.

Nếu việc suy luận dựa trên cơ sở lý luận khoa học, có chừng mực, thì công dụng suy ra từ cấu trúc chức năng là hợp lý. Ví dụ, một TPCN chứa các chất có tính năng làm giảm cholesterol toàn phần, giảm cholesterol xấu thì có thể suy ra có thể hỗ trợ trong điều trị xơ vữa động mạch vành. TPCN không phải là thuốc chữa bệnh, nên người bệnh có thể dùng và hy vọng có công dụng này; nếu ví lý do nào đó mà không đạt được công dụng này, cũng không có gì hại cả.

Loại công dụng bị quảng cáo quá mức

Ngoài hai loại công dụng nói trên một số ít nhà sản xuất không kiềm chế có thể ghi ra nhiều công dụng quá mức, chữa được “bách bệnh” như một “thần dược”.

Khi tìm hiểu TPCN phải phân biệt công dụng có thực (đáng tin cậy) công dụng có tiềm năng nhưng không chắc chắn (có thể hy vọng) và công dụng không thể nào có do nhà sản xuất suy luận quá mức (không đáng tin cậy, không thể hy vọng).

Điều lưu ý khi đọc thông tin quảng cáo, nhãn thực phẩm chức năng

Trong nội dung nhà sản xuất thường điểm qua lịch sử nguyên liệu, giải thích vì sao dùng chúng được chọn làm TPCN, sau đó nêu tình hình dùng loại thực phẩm chức năng này trên thế giới như thế nào, đề cập đến những ưu điểm của loại TPCN cụ thể mà mình sản xuất.

Mọi thực phẩm chức năng đều được quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trên nhãn cũng ghi các công dụng của TPCN. Nội dung thông tin, quảng cáo và nhãn đều do nhà sản xuất tự công bố đăng ký, chịu trách nhiêm về sự công bố đăng ký này trước cơ quan quản lý và pháp luật.

TPCN nói chung là lành tính; lợi ích của TPCN là có thật, dùng đúng sẽ lợi cho sức khỏe và cả sắc đẹp. Đó là một khuynh hướng tiêu dùng lành mạnh, đáng được khuyến khích. Tuy nhiên, một số mặt trái của nó thường do thực tế từ tình trạng quảng cáo quá đà, đưa ra nhiều công dụng hấp dẫn làm cho một số người quá tin, gây ra nhiều rối rắm, khiến người dùng không hiểu được thực chất của chúng.

Người đọc thông tin nhãn TPCN cần tĩnh tâm suy nghĩ, khi không hiểu hết thì nên hỏi bác sĩ, dược sĩ, lương y để hiểu đúng và dùng đúng mới phát huy hết tác dụng của chúng.
AloBacsi.vn
Theo DS.CKII. Bùi Văn Uy - Sức khỏe và Đời sống